THỰC TRẠNG DU LỊCH TẠI TP HỒ CHÍ MINH

THỰC TRẠNG DU LỊCH TẠI TP HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG DU LỊCH TẠI TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA DU LỊCH - -

BÁO CÁO TIỂU LUẬN

Học phần môn: ĐỊA LÝ DU LỊCH DU LỊCH VIỆT NAM

HM07.

Đề tài: Anh/chị hãy nêu tiềm năng và thực trạng phát triển du

lịch Thành Phố Hồ Chí Minh.

Giáo viên hướng dẫn:Ths. Nguyễn Thị Minh Hạnh Họ và tên sinh viên: NGUYỄN XUÂN QUANG Ngày sinh: 12/02/ Mã số sinh viên: 21C-46-42- Lớp: GHCM315A

Tp Hồ Chí Minh , tháng 08 năm 2022

2

MỤC LỤC

  • Chương 1: MỞ ĐẦU
      1. Tính cấp thiết
      1. Mục tiêu
        • PHỐ HỒ CHÍ MINH Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH
      1. Vị trí địa lý
      1. Tài nguyên du lịch
        1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
        1. Tài nguyên du lịch nhân văn
      1. Thực trạng phát triển du lịch
        1. Khách du lịch
        1. Tổng thu du lịch
        1. Cơ sở lưu trú
      1. Hệ thống khu, điểm du lịch
        1. Các khu du lịch
        1. Các điểm du lịch
  • Chương 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
      1. Kết luận
      1. Kiến nghị

Thứ tư, là sự tham gia của cộng đồng còn rất hạn chế nên việc thể hiện tâm tư nguyện vọng của họ đến các cơ quan nhà nước không được nhiều. Để giải quyết những nguyên nhân này, thì có những giải pháp được đưa như sau: giải pháp liên quan đến xây dựng quy hoạch phát triển du lịch; giải pháp liên quan đến trách nhiệm của doanh nghiệp trong phát triển du lịch bền vững và giải pháp liên quan đến sự tham gia của cộng đồng vào phát triển du lịch bền vững.

2. Mục tiêu

Kiên trì với mục tiêu xác định thị trường du lịch nội địa đóng va i trò chủ lực, ngành Du lịch TP đã khởi động, sáng tạo và đổi mới nhiều nội dung để thíc h ứng với diễn biến của dịch Covid-19, kích cầu, thu hút khách du lịch nội địa. Thứ nhất, chuyển đổi cách thức kinh doanh, thích ứng linh hoạt với dị ch bệnh ngay từ những ngày đầu. Sở Du lịch TP đã huy động nguồn lực tham gia vào phục vụ cách ly y tế, phù hợp với tiêu chí của giai đoạn chống dịch c ao điểm của Thành phố, đã góp phần giảm tải cho các khu cách ly tập trung của TP. Thứ hai, đẩy mạnh liên kết du lịch trong điều kiện thích ứng an toàn với dịch Covid-19, tạo đà phục hồi nhanh ngành du lịch. Song song với các chương tr ình “nội thành”, ngành Du lịch TP còn chủ động, tiên phong đẩy mạnh khởi động lại việc liên kết du lịch an toàn “cấp tỉnh”, “cấp vùng” với gần 20 địa phương khơi thông dòng khách du lịch qua lại giữa TPHCM và các tỉnh sau thời gian giãn cách. Thứ ba, tập trung “biến nguy thành cơ” bằng việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tích cực chuyển đổi số, tận dụng được cơ hội thích ứng nhanh, kịp thời thay đổi mô hình quản lý để vươn lên mạnh mẽ hơn. Sở đã công bố và cập nhật 366 tài nguyên du lịch đặc sắc, hấp dẫn trên Google Maps, Google Earth, bản đồ tương tác du lịch thông minh 3D/3600. Ra mắt phiên bản mới của webs ite quảng bá và xúc tiến du lịch TPHCM – visithcmc, App Du lịch cho phép người dùng có thể tương tác ảo và khám phá thông tin về các điểm du lịch. Lần đầu tiên trong cả nước ngành Du lịch TP tổ chức Hội chợ du lịch trực tuyến trên nền tảng 2D, 3D và cũng là lần đầu tiên sản phẩm du lịch được giao dịch trên sàn thương mại điện tử trực tuyến. Năm 2022, dự báo tình hình vẫn còn nhiều khó khăn, tuy nhiên để chủ động phục hồi du lịch trong điều kiện dịch bệnh được kiểm soát, ngành Du lịch TP đặt ra quyết tâm cao, với 4 mục tiêu là: Tích cực triển khai thực hiện Chiến lược phát triển du lịch TPHCM đến năm 2030; Tập trung hỗ trợ doanh nghiệp du lịch phục hồi sau dịch Covid-19; Tập trung truyền thông, quảng bá về sản phẩm du lịch đặc trưng, điểm đến và thương hiệu du lịch TP; Thúc đẩy kích cầu du lịch và khai thác ứng dụng số trong du lịch; Triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu cho du lịch thương mại.

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
  1. Vị trí địa lý. Lãnh thổ thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý 10°22’33″- 11°22’17″ vĩ độ bắc và 106°01’25″ – 107°01’10″ kinh độ đông với điểm cực bắc ở xã Phú Mỹ (huyện Cần Giờ), điểm cực tây ở xã Thái Mỹ (Củ Chi) và điểm cực đông ở xã Tân

An (huyện Cần Giờ). Chiều dài của thành phố theo hướng tây bắc – đông nam là 150 km, còn chiều tây – đông là 75 km. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 59 km đường chim bay. Thành phố có 12 km bờ biển, cách thủ đô Hà Nội 1 km (đường bộ) về phía Nam.

Diện tích toàn Thành phố là 2,5 km 2 , trong đó nội thành là 140,3km 2 , ngoại thành là 1,2km 2. Độ cao trung bình so với mặt nước biển: nội thành là 5 m, ngoại thành là 16 m.

Khí hậu: Khí hâ ̣u thành phố Hồ Chí Minh mang tính chất câ ̣n xích đạo nên nhiê ̣t đô ̣ cao và khá ổn định trong năm. Số giờ nắng trung bình tháng đạt từ 160 đến 270 giờ. đô ̣ ẩm không khí trung bình 79,5%. Nhiê ̣t đô ̣ trung bình năm là 27,55°C (tháng nóng nhất là tháng 4, nhiê ̣t đô ̣ khoảng 29,3°C – 35°C). Thành phố Hồ Chí Minh có hai mùa rõ rê t: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm là 1̣ mm. số ngày mưa trung bình năm là 159 ngày (lớn hơn 90% lượng mưa tâ ̣p trung vào các tháng mùa mưa). Đă ̣c biê ̣t, những cơn mưa thường xảy ra vào buổi xế chiều, mưa to nhưng mau tạnh, đôi khi mưa rả rích kéo dài cả ngày. Mùa khô từ tháng 12 năm này đến tháng 4 năm sau, nhiệt đô ̣ trung bình 27,55°C, không có mùa đông. Thời tiết tốt nhất ở thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau là những tháng trời đẹp.

Đặc điểm địa hình: Địa hình thành phố Hồ Chí Minh phần lớn bằng phẳng, có ít đồi núi ở phía Bắc và Đông Bắc, với độ cao giảm dần theo hướng Đông Nam. Nhìn chung có thể chia địa hình thành phố Hồ Chí Minh thành 4 dạng chính có liên quan đến chọn độ cao bố trí các công trình xây dựng: dạng đất gò cao lượn sóng (độ cao thay đổi từ 4 đến 32 m, trong đó 4 – 10 m chiếm khoảng 19% tổng diện tích. Phần cao trên 10 m chiếm 11%, phân bố phần lớn ở huyện Củ Chi, Hóc Môn, một phần ở Thủ Đức, Bình Chánh); dạng đất bằng phẳng thấp (độ cao xấp xỉ 2 đến 4 m, điều kiện tiêu thoát nước tương đối thuận lợi, phân bố ở nội thành, phần đất của Thủ Đức và Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và nam Bình Chánh chiếm 15% diện tích); dạng trũng thấp, đầm lầy phía tây nam (độ cao phổ biến từ 1 đến 2 m, chiếm khoảng 34% diện tích); dạng trũng thấp đầm lầy mới hình thành ven biển (độ ca o phổ biến khoảng 0 đến 1 m, nhiều nơi dưới 0 m, đa số chịu ảnh hưởng của thuỷ triều hàng ngày, chiếm khoảng 21% diện tích).

See also  FLAMINGO ĐẠI LẢI THE LEGEND

Nhìn chung, địa hình thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.

Dân số: Vào năm 2007, thành phố Hồ Chí Minh có dân số 6.650 người và là thành phố đông dân nhất Việt Nam. Theo số liệu thống kê năm 2004, 85,24% dân cư sống trong khu vực thành thị và thành phố Hồ Chí Minh cũng có gần một phần năm là dân nhập cư từ các tỉnh khác. Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoa với 6,69%, còn lại là các dân t ộc Chăm, Khmer, … Những người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện,

Rừng của Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu tập trung ở huyện Cần Giờ, đây là rừng ngập mặn ven biển. Năm 2020, cả thành phố còn 33,454 nghìn ha rừng, trong đó có 13,521 nghìn ha rừng tự nhiên và 19,933 nghìn ha rừng trồng. Trong năm 2019, diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ gần 76 ha, trong đó vùng lõi hơn 4 ha, vùng đệm 41 ha và vùng chuyển tiếp gần 30 ha. Rừng ngập mặn nơi đây bao gồm một tập đoàn loài cây ngập mặn sống cùng với các loại cây khác như: sú, vẹt, đước, ô rô, chà… Hiện nay khu vực này đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh giáp biển ở phía huyện Cần Giờ. Nguồn thủy sản ở đây khá phong phú, giàu cả tầng cá nổi lẫn tầng cá đáy và gần đáy. Những loài cá phổ biến là cá chìa vôi, cá chẻm, cá măng, cá đao,… Động vật ở trên cạn, nhìn chung nghèo nàn. Có giá trị hơn cả là vườn chim TP. Thủ Đức, có ý nghĩa phục vụ cho phát triển du lịch.  Nguồn nước: Nằm ở hạ lưu sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch ở thành phố khá dày đặc với mật độ 3,38 km/km 2. Thành phố nằm giữa hai con sông lớn là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, nhưng lại chịu ảnh hưởng nhiều của hệ thống sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai dài 850 km, bắt nguồn từ vùng Lang Biang do hai nhánh Đa Dung và Đa Nhim hợp thành. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quảng chảy qua lãnh thổ các tỉnh Tâ y Ninh, Bình Phước, Bình Dương rồi chảy vào địa phận thành phố. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều rạch nối với sông Sài Gòn (rạch Láng Tre, rạ ch Tra, rạch Bến Cát, rạch Thị Nghè,…) và một số kênh đào (kênh Tham Lương, kênh An Hạ, kênh Thái Mỹ, kênh Đông). Sông Vàm Cỏ Đông có lưu lượng nướ c không lớn, được nối thông với sông Vàm Cỏ Tây và Đồng Tháp bởi nhiều sông nhánh và hệ thống các kênh, rạch.

2. Tài nguyên du lịch

Sài Gòn – TP có quá trình hình thành và phát triển hơn 300 năm, các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn là bức tranh mang đậm dấu ấn về bằng chứng vật chất và tinh thần phản ánh những giá trị lịch sử, văn hóa của Thành phố trong suốt quá trình khai phá, xây dựng, đấu tranh của các thế hệ cư dân ở vùng đất này. Do đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa ở đây là việc làm cần thiết góp phần quan trọng trong giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng cho thế hệ trẻ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân ta. Và việc phát triển du lịch dựa trên những giá trị của di tích lịch sử văn hóa cũng là cách vừa để bảo tồn, phát huy và giáo dục truyền thống yêu nước, quý báu của dân tộc, vừa là để thể hiện và ca ngợi tinh thần đó với bạn bè năm châu. Các di tích lịch sử văn hóa của TP bao gồm nhiều loại: Các di tích lịch sử; Các di tích kiến trúc nghệ thuật; Các di tích khảo cổ; Các bảo tàng và thắng cảnh có giá trị lịch sử.

Hiện nay, tại TP có 168 công trình, địa điểm có dấu hiệu di tích, trong đó có 132 công trình, địa điểm đã được xếp hạng, gồm: 1 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 53 di tích cấp quốc gia (25 di tích lịch sử, 26 di tích kiến trúc nghệ thuật, 2 di tích khảo cổ) và 178 di tích cấp thành phố (35 di tích lịch sử, 43 di tích kiến trúc nghệ thuật): Điển hình:

  • Di tích lịch sử – văn hóa: Địa đạo Củ Chi – Đền Bến Dược, Hội trường Thống Nhất, Tòa nhà Ủy ban Nhân dân Thành phố, Bưu điện thành phố, Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Di tích khảo cổ: Lò gốm Hưng Lợi, Di tích mộ Chum Giồng cá vồ, Giồng Phệt ở Cần Giờ. Hệ thống bảo tàng: Với hệ thống 13 bảo tàng công lập, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số bảo tàng nhiều nhất so với cả nước. Ngoài các bảo tàng này, thành phố còn có nhiều bảo tàng khác do tư nhân lập ra, thu hút sự quan tâm của cả khách du lịch quốc tế và nội địa.
  • Các ngôi chùa cổ: Chùa Giác Lâm, Chùa Giác Viên, Chùa Vĩnh Nghiêm, Chùa Nam Thiên Nhất Trụ, Chùa Xá Lợi, Chùa Bà Thiên Hậu, Chùa Ngọc Hoàng, Chùa Linh Sơn,…
  • Các nhà thờ cổ: Nhà thờ Đức Bà, Nhà thờ Huyện Sỹ, Nhà thờ Chợ Quán, Nhà thờ Cha Tam,…
  • Các khu du lịch, vui chơi giải trí: Đầm Sen, Suối Tiên, Bình Quới, Văn Thánh,…
  • Lễ hội tín ngưỡng: Lễ hội Nghinh Ông Cân Giờ, Lễ hội Kỳ Yên đình Phú Nhuận, Lễ Kỳ yên đình Bình Đông, Lễ hội miếu Ông Địa, Lễ Vu Lan,…
  • Lễ hội dân tộc ít người: Lễ hội truyền thống của người Hoa, Lễ hội truyền thống của người Chăm, Lễ hội truyền thống của người Khmer. Lễ hội liên quan đến nghề nghiệp: Lễ giỗ Tổ nghề Kim hoàn, Lễ giỗ Tổ cải lương, hát bội, Lễ giỗ Tổ thợ may,…
  1. Thực trạng phát triển du lịch.
  2. Khách du lịch Tổng số lượt khách du lịch nội địa của Việt Nam tăng liên tục trong giai đoạn 2010-2017; tăng từ 28,000,000 lượt vào năm 2010 lên 73,200,000 lượt vào năm 2017; tính trong cả giai đoạn 2010-2017, tổng số lượt khách du lịch nội địa của Việt Nam đã tăng hơn 2 lần. Ngược lại, tổng lượt du lịch nội địa đến thành phố Hồ Chí Minh tăng giảm không liên tục trong giai đoạn 2010-2017; đầu tiên, tăng gấp 2 lần từ 3,592,000 lượt vào năm 2010 lên 7,237,000 lượt vào năm 2011; tiếp theo, giảm liên tục trong 2 năm xuống 5,748,000 lượt vào năm 2013; cuối cùng, tăng liên tục trong 4 năm lên 12,577,000 lượt vào năm 2017. Tính trong cả giai đoạn 2010-2017, tổng số lượt khách du lịch nội địa đến thành phố Hồ Chí Minh đã tăng 3 lần. Tốc độ tăng trưởng khách du lịch nội địa của Việt Nam tăng không đều trong giai đoạn 2010-2017; trong đó, tăng trưởng mạnh nhất vào năm 2015 với tốc độ 48%, tăng trưởng yếu nhất vào năm 2011 với tốc độ 7%; nhìn chung, tốc độ tăng trưởng khách du lịch nội địa của Việt Nam tuy có sự thay đổi

nhiều mức tăng 3 lần của tổng lượt khách du lịch nội địa đến thành phố Hồ Chí Minh. Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng không đều trong giai đoạn 2010-2017; trong đó, tăng trưởng mạnh nhất vào năm 2017 với tốc độ 29%, tăng trưởng yếu nhất vào năm 2015 với tốc độ 0%; điều này r ất đáng lưu ý vì đây lại là năm Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khách du lịch nội địa mạnh nhất với tốc độ 48%; nói cách khác, chính khách du lịch nội địa đã góp phần giảm bớt khó khăn cho ngành Du lịch Việt Nam trong năm 2015. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tuy có sự thay đổi qua các năm nhưng luôn dương. Ngược lại, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh không những tăng giảm không liên tục mà còn có năm bị âm; trong đó, tăng trưởng mạnh nhất vào năm 2013 với tốc độ 18%, nhưng tăng trưởng âm vào năm 2012 với tốc độ -13% (Biểu đồ 2).

  1. Tổng thu du lịch. Tổng doanh thu từ khách du lịch đến Việt Nam tăng liên tục trong giai đoạn 2010-2017; tăng từ 96,000 nghìn tỉ đồng vào năm 2010 lên 510,900 nghìn tỉ đồng vào năm 2017; tính trong cả giai đoạn 2010-2017, tổng doanh thu từ khách du
See also  Government watchdog to investigate selection of new FBI headquarters site

lịch đến Việt Nam đã tăng hơn 5 lần. Tương tự, tổng doanh thu từ khách du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh cũng tăng liên tục trong giai đoạn 2010-2017; tăng từ 9,514 nghìn tỉ đồng vào năm 2010 lên 20,162 nghìn tỉ đồng vào năm 2017; tính trong cả giai đoạn 2010-2017, tổng doanh thu từ khách du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh đã tăng hơn 2 lần. Tốc độ tăng trưởng doanh thu từ khách du lịch đến Việt Nam tăng không đều trong giai đoạn 2010-2017; trong đó, tăng trưởng mạnh nhất vào năm 2015 với tốc độ 46%, tăng trưởng yếu nhất vào năm 2014 với tốc độ 15%; nhìn chung, tốc độ tăng trưởng doanh thừ từ khách du lịc h đến Việt Nam khá ấn tượng vì luôn đạt mức tăng trưởng hai con số. Ngược lại, tốc độ tăng trưởng cơ sở lưu trú tại thành phố Hồ Chí Minh không những tăng giảm không liên tục mà còn có năm bị âm; trong đó, tăng trưởng mạnh nhất vào năm 2017 với tốc độ 22%, thậm chí tăng trưởng âm vào năm 2015 với tốc độ -13%. 3. Cơ sở lưu trú. Về số lượng, tính đến ngày 30/6/2017, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 2,128 cơ sở lưu trú du lịch với 50,261 buồng. Trong đó, có 1,941 cơ sở lưu trú với 48,729 buồng được phân loại, xếp hạng từ 1-5 sao và 185 nhà nghỉ du lị ch với 1,166 buồng. Có thể đánh giá sơ nét đặc trưng của từng nhóm cơ sở lưu trú du lịch như sau: – Khối khách sạn 3-5 sao, khách sạn 1-2 sao quy mô phòng trên 25 phòng và các loại cơ sở lưu trú du lịch hạng cao cấp khác tập trung ở khu vực các quận trung tâm như quận 1, quận 3, quận 5, quận 10, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận. – Khối khách sạn 1-2 sao và các loại cơ sở lưu trú du lịch đạt chuẩn khác có quy mô nhỏ nằm ở các quận, huyện ngoại thành như quận 2, quận 8, quận 9, quận 12, quận Bình Tân, quận Tân Phú, quận Thủ Đức, huyện Hóc Môn, huyện Bình Chánh, huyện Củ Chi, huyện Cần Giờ. Về chất lượng, so với tiêu chuẩn TCVN (Bộ Tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam) đối với từng cấp hạng, nhìn chung hệ thống cơ sở l ưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng ở mức khá, cơ sở vật chất được đầu tư tương xứng, được các hãng lữ hành và khách du lịch trong và ngoài nướ c đánh giá khá cao, thuộc loại hàng đầu so với các tỉnh, thành trong cả nước, có khả năng cạnh tranh với các thành phố khác trong khu vực. Trong những năm qua, hầu hết các khách sạn cao cấp, đặc biệt là các khách sạn 4-5 sao đều quan tâm đầu tư các dịch vụ phục vụ du lịch MICE, góp phần hình thành và phát triển phân khúc thị trường du lịch cao cấp này cho thành phố Hồ Chí Minh cũng như cho cả nước.

4. Hệ thống khu, điểm du lịch

  1. Các khu du lịch Khu Địa đạo Củ Chi: Địa đạo Củ Chi ra đời khoảng từ những năm 1947-1948 trên địa bàn hai xã Tân Phước Trung và Phước Vĩnh An. Địa đạo được xem là một kỳ tích “làng ngầm” có độ dài khoảng 200km.

quốc gia và trở thành điểm đến hấp dẫn không chỉ với khách du lịch t rong nước mà rất thu hút du khách quốc tế đến tham quan và tìm hiểu. Một số di tích và khu di tích lịch sử khác: Đến nay, trên địa bàn Thành phố, ngoài các di tích quan trọng trên đây còn có nhiều di tích khác có giá trị cũng đã được xếp hạng. Ngoài ra còn các khu du lịch sinh thai khác.

  1. Các địa điểm du lịch Dinh Độc Lập – di tích cấp gia đặc biệt: Tọa lạc tại số 135 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Nghé, Quận 1. Lúc đầu Dinh Độc Lập là cơ quan đầu não của chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kỳ. Tòa nhà từng được gọi là Dinh Thống đốc Nam Kỳ hay còn gọi là Dinh Norodom, Dinh Toàn quyền Đông Dương, Phủ Cao ủy Đông Dương đã được chính chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp quản năm 1955, từ đó chính thức được gọi là Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập có khuôn viên rộng 12 ha, gồm 4 tầng chính, hai gác lửng, tầng trệt và hai đoạn tầng hầm. Trên nóc Dinh Độc Lập có sân đậu trực thăng, phía dưới có hệ thống hầm kiên cố, được trang bị hệ thống điện đài và hệ thống để chỉ huy rất hiện đại. Dinh Độc Lập là nơi ở và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu từ tháng 10/1967 đến 21/4/1975. Ngày 30/04/1975 khi xe tăng quân Giải phóng húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước chính quyền cách mạng. Tháng 11/1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc đã diễn ra tại Dinh Độc Lập. Với những giá trị đặc biệt, ngày 25/06/1976 Bộ Văn Hóa – Thông tin đặc cách xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia. Đến ngày 12/08/2009, di tích lịch sử – văn hóa Dinh Độc Lập được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.

Nhà thờ Đức Bà: Nhà thờ Đức Bà (còn gọi là nhà thờ lớn, Vương cung thánh đường, nhà t hờ chính tòa) đồ sộ, đẹp, đứng sừng sững ở trung tâm Thành phố, luôn thu hút nhiều người lui tới. Nhìn từ bên ngoài, toàn bộ nhà thờ từ mái đến tường là một màu đỏ gạch nung. Đặc điểm của loại gạch và ngói xây dựng nhà thờ là giữ nguyên màu từ ngày xây dựng đến nay và không hề đóng rêu mốc. Bên trong nhà thờ khá rộng, có sức chứa 1 người, với hai hàng cột chính hình chữ nhật mỗi bên sáu chiếc (tổng cộng 12 chiếc) tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang có khá nhiều khoang có những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) với các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo.

See also  7 địa điểm du lịch tại Huyện Đức Hòa - Tỉnh Long An

Từ lâu, khá nhiều khách tham quan trong và ngoài nước đã vào đây. Nhà thờ Đức Bà trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách cả trong và ngoài nước. Mỗi ngày, lượng du khách tới đây cũng tương đương với ở Dinh Độc Lập. Bảo tàng kiến trúc cổ TP có nhiều công trình kiến trúc đẹp như là điểm nhấn cho Thành phố trong thời kỳ công nghiệp hóa. Những công trình tiêu biểu có giá trị về kiến trúc nghệ thuật là trụ sở của Ủy ban Nhân dân Thành phố, Nhà hát Thành phố, Bưu điện trung tâm, Tòa án Nhân dân, Thư viện Khoa hoạc tổng hợp, Trường Trung học phổ thông Lê Hồng Phong, các trung tâm thương mại như Diamond Plaza, Sài Gòn Trade Centre,… và hệ thống các bảo tàng trong Thành phố. Trên địa bàn Thành phố hiện có 11 bảo tàng, bảo tàng lớn và cổ nhất là Bảo tàng lịch sử Việt Nam với 30 nghìn hiện vật. Mỗi bảo tàng trưng bày mỗi nội dung và khả năng hấp dẫn khách du lịch là khác nhau. Đến TP, du khách không thể không ghé thăm một trong số bảo tàng nổi bật như: bảo tàng Chứng tích chiến tranh, bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng Lịch sử Việt Nam, bảo tàng TP, bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, bảo tàng Mỹ thuật TP, bảo tàng Lịch sử Việt Nam, bảo tàng Tôn Đức Thắng,….

Di tích khảo cổ TP mới có lịch sử phát triển hơn 300 năm, song có nhiều di tích và di vật khảo cổ được phát hiện có niên đại cách nay hàng nghìn năm. Điều đó cho thấy trên địa bàn Thành phố từ cách nay hàng nghìn năm đã có cư dân sinh sống và có sự giao lưu rộng rãi với những vùng văn hóa khác. Cho đến năm 2011, ngoài những hiện vật được phát hiện từ thời Pháp thuộc, đã có nhiều hiện vật được phát hiện ở quận 2, quận 9, quận 11, quận 12, huyện Hóc Môn, huyện Bình Chánh và huyện Cần Giờ. Trong đó có hai di tích được xếp hạng là Giồng Cá Vồ (huyện Cần Giờ) và Lò Gốm cổ Hưng Lợi (Quận 8).

CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

TP hiện đang sở hữu nguồn tài nguyên du lịch, văn hóa đa dạng, phong phú gồm hơn 200 tài nguyên văn hóa vật thể, hơn 100 tài nguyên nhân tạo, hệ thống bảo tàng, di tích cách mạng… với nhiều điểm đến hấp dẫn du khách như Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi, Công viên Văn hóa Đầm Sen, Khu du lịch Văn hóa Suối Tiên, Làng Du lịch Bình Quới, Khu du lịch Vàm Sát, Bảo tàng thành phố, Dinh Thống Nhất, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, Chợ Bến Thành, Bưu điện thành phố, Nhà thờ Đức Bà… Không chỉ là một trong những trung tâm trung chuyển, đầu mối tiếp nhận khách quốc tế và nội địa quan trọng của cả nước, TP còn là nơi tâ ̣p trung nhiều cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, mua sắm, tổ chức hô ̣i nghị du lịch hàng đầu của Việt Nam, giúp giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động thành phố

dựng sản phẩm du lịch mới, đa dạng như phối hợp với huyện Củ Chi ph át triển sản phẩm du lịch nông nghiệp gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; hình thành mô hình du lịch sinh thái tại xã Thạnh An, huyệ n Cần Giờ; hoàn thiện 7 tuyến du lịch đường sông; xây dựng chiến lược phát triển du lịch MICE (hội thảo, hội nghị) đến năm 2025. Trong năm 2019, ngành du lịch TP đặt mục tiêu đón trên 40 triệu lượt du khách với tổng thu du lịch đạt 150 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với năm 2018. Trong đó, có 8,5 triệu lượt khách quốc tế, trên 32,7 triệu lượt khách nội địa. Định hướng hoạt động du lịch năm 2022 cũng như chiến lược phát triển du lịch thành phố đến năm 2030, việc xây dựng sản phẩm du lịch hấp dẫn, đặc trưng và sản phẩm du lịch chủ lực nhằm thu hút du khách, tập trung nâng chất các sự kiện và biến sự kiện trở thành sản phẩm quảng bá và thu hút khách, tăng độ dài lưu trú, chi tiêu bình quân và tỷ lệ quay lại của khách du lịch, nâng cao công tác nghiên cứu thị trường, tăng cường công tác truyền thông quảng bá hình ảnh điểm đến thành phố “Hấp dẫn – Thân thiện – An toàn”.

2. Kiến nghị

Thúc đẩy kế hoạch liên kết, hợp tác phát triển du lịch TPHCM và các tỉnh, thành nhằm tạo ra những gói sản phẩm du lịch liên vùng và tổ chức chiến dịch quảng bá xúc tiến nhằm kích cầu du lịch trong và sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát phục vụ du khách. Nhanh chóng số hóa, ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước cũng như hoạt động kinh doanh du lịch; tuyên truyền, quảng bá và trong công tác chỉ đạo, điều hành của Sở Du lịch; tổ chức quảng bá thương hiệu du lịch “Vibrant Ho Chi Minh city” đến thị trường khách nội địa và khách quốc tế. Tăng cường xúc tiến du lịch trong nước và tham gia các hội chợ du lịch quốc tế qua việc ứng dụng công nghệ dưới hình thức trực tuyến, qua việc tổ chức các hoạt động, sự kiện du lịch thường niên trên địa bàn Thành phố bảo đảm phù hợp với tình hình dịch bệnh với nguyên tắc an toàn cho khách du lịch. Đối với xúc tiến nước ngoài, kết hợp với các cơ quan/tổ chức quốc tế tại Việt Nam tổ chức các chương trình xúc tiến và tham dự các hội chợ du lịch quốc tế trực tuyến,…

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Cổng thông tin địa lý Thành Phố Hồ Chí Minh

  2. Tài liệu tài nguyên nhân văn phát triển du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Hồ Chí Minh

  4. Du lịch văn hóa

  5. Tài liệu học liệu bộ môn Tổng Quan Du Lịch

  6. Học liệu điện tử của Trường Đại học Mở Hà Nội.

  7. Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2011-2018). Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010-2017, TP. Hồ Chí Minh.

  8. Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh (2017a). Báo cáo Tình hình hoạt động và dự báo tiềm năng, định hướng phát triển của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, TP. Hồ Chí Minh.

  9. Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh (2017b). Báo cáo Công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

  10. Tổng Cục Thống kê (2011-2018). Niên giám thống kê Việt Nam năm 2010- 2017, Hà Nội.

Comments are closed.
Ky Phu,Nho Quan,Ninh Binh, Viet Nam Country
+84.229 6333 111

BOOKING TEE TIME

[formidable id=8 title=true description=true]
Trang An Golf and Resort