100 Bài Giáo Lý Kinh Thánh

100 Bài Giáo Lý Kinh Thánh
100 Bài Giáo Lý Kinh Thánh

Lm Ph. HOÀNG MINH TUẤN Biên soạn

Bản điện tử này, chúng tôi xây dựng dựa trên bản in năm 1999. Vì một số lý do khách quan, chúng tôi chưa thể liên hệ với chính tác giả để xin phép được đăng trên web sỉte này. Vì lợi ích chung, kính mong tác giả thứ lỗi. Chúng tôi cho đăng các bản giáo lý không ngoài mục đích cung cấp nội dung cho các giáo lý viên tiện việc tham khảo, vì thế, xin quí vị vui lòng không in thành sách. Nếu quí vị muốn mua sách, xin liên hệ với các nhà sách công giáo, hiện có bán bản gốc.

LỜI NÓI ĐẦU (Chỉ cần đọc cho mỗi gia đình một lần đầu hết) * Mỗi gia đình hãy nhận làm một giờ đền tạ mỗi tuần một lần (có thể liên kết với nhau để ngày nào cũng có 1 gia đình làm đền tạ). 1. Trên Căn bản tự nguyện: Gia đình nào muốn đền tạ Chúa vì các tội riêng mình, gia đình mình và mọi người trên thế giới đã xúc phạm đến Chúa. 2. Không mời hàng xóm đến dự: Chỉ làm riêng trong gia đình. Song nhớ rằng vẫn liên kết với các gia đình khác cũng làm như mình. 3. Thời gian: Vào buổi tối, khoảng 30 phút đến l giờ, – Chương trình đề nghị: Mở đầu: Một bài hát ca tụng, thờ lạy Chúa (hoặc kinh Đức Chúa Thánh Thần). – Kinh ăn năn tội; kinh tin, cậy, mến; hoặc lời nguyện tự phát. – Nghe lời chúa (xem sau): * (Nếu được): Lời nguyện tự phát dựa theo ý bài Kinh Thánh. Kinh đền tạ Trái Tim Chúa. Một kinh Kính Mừng kính đức Mẹ. Hát bế mạc, hoặc kinh Cám ơn, hoặc kinh Lạy Cha.

* * *

Đền tạ là gì? Tại sao cần có bài lời Chúa? Đền tạ do hai chữ Đền bồi và Tạ tội, tức là dâng lên Thiên Chúa việc sám hối ăn năn và đền bồi vì các tội lỗi ta đã xúc phạm đến Người. Việc đền tạ phải bao hàm ý định sẽ tránh xa các tội lỗi mất lòng Chúa, và từ nay làm những điều đẹp lòng Người. Do đó cần có các Bài Lời Chúa sẽ giúp ta biết tội gì Chúa ghét mà tránh, biết điều tốt lành Chúa thích mà làm. Như thế, giờ đền tạ mới đầy đủ ý nghĩa. Vì thế việc đền tạ không thể chỉ đọc kinh suông, và bài Lời Chúa không thể thiếu trong giờ đền tạ ấy được.

***

Bố cục các bài lời Chúa: l. Đại khái gồm: các Điều răn, các bổn phận, các bài về Ơn thánh, Bí tích và các tín điều, vv… Như vậy, là một cách học giáo lý bằng Kinh Thánh trong gia đình . 2. Nội dung từng bài Lời Chúa gồm có: – Một đoạn Lời Chúa, tích truyện Kinh Thánh. – Vài điều suy niệm. – Trích truyện phụ họa (nếu có). – Áp dụng cụ thể vào đời sống. Lưu ý cho cả cuốn sách: Bài Kinh Thánh hoặc bài suy niệm nào xét quá dài, xin cứ tùy nghi chia làm hai, hay ba.

-ooo- BÀI LỜI CHÚA 1 ĐIỀU RĂN THỨ NHẤT: THỜ THIÊN CHÚA ĐỘC NHẤT CHÂN THẬT

(Một người đọc to) Chúng ta khởi sự điều răn thứ nhất: “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và yêu mến Người trên hết mọi sự”. Điều răn này dạy muốn thờ phượng một Chúa trên hết mọi sự, thì phải từ bỏ những điều quấy quá, dị đoan, cúng quẩy các tà thần. Đó là điều Chúa dạy trong bài Kinh Thánh hôm nay.Trích sách các vua quyển 1, đoạn 18, c.19tt Ba năm trời ròng rã, hạn hán và đói khát đã làm rũ liệt nước Is-ra-en, vì họ đã dám bỏ Thiên Chúa mà thờ tà thần Ba-an. Song Thiên Chúa thương xót dân Người. Người muốn chấm dứt các đại họa ấy, nên mới sai tiên tri Ê-li-a đến cùng vua A-kháp mà nói rằng: – Xin Bệ hạ hãy sai người đi tụ họp toàn thể Is-ra-en với tôi trên núi Các-men, làm một với 450 thầy cúng của thần Ba-an. Vua đành nghe theo cách miễn cưỡng. Thế là toàn dân lũ lượt tụ tập trên núi, và đứng giữa họ có 450 thầy cúng. Tiên tri Ê-li-a tiến lại trước toàn dân và nói: – Cho đến bao giờ, các người còn khập khiễng cả hai giò (nghĩa là bắt cá hai tay)? Nếu Yavê thật là Thiên Chúa, thì hãy theo Người; còn nếu (các người cho) Ba-an là Thiên Chúa, thì hãy theo hắn. Phải chọn lựa dứt khoát. Chỉ có một mình tôi là tiên tri của Chúa Yavê, còn thầy cúng của Ba-an có những 450 người. Không sao! Hãy đem đến đây hai bò tơ; 450 thầy cúng. Hãy chọn một con mà xẻ thịt ra, đặt trên củi mà tế thần, nhưng nhớ đừng châm lửa. Còn tôi cũng làm như vậy và không châm lửa. Các ông thầy cúng sẽ kêu khấn thần của họ, còn tôi, tôi kêu khấn Danh Chúa Yavê: Thần linh bên nào đáp lời, bằng cách cho lửa từ trời xuống thiêu của lễ, thần linh ấy là Thiên Chúa thật và phải thờ phượng Người. Toàn dân đáp lại: – Thật là một lời đề nghị chí lý! Các thầy cúng đành phải nhận cuộc thử thách này. Họ xẻ thịt, xếp củi, đặt thịt cúng lên, rồi bắt đầu khấn vái thần của họ cho lửa xuống, nhưng vô hiệu. Họ kêu gào, nhảy múa từ sáng tới trưa, mà chẳng thấy gì. Tiên tri Ê-li-a nhạo họ: – Phải gào to hơn, vì thần của các ông có lẽ đang bận suy tính hay mắc việc, có khi đi vắng, có khi đã đi ngủ. Nghe thấy thế, các thầy cúng càng kêu gào lớn tiếng hơn và lấy đoản kiếm, xà mâu rạch mình đến chảy máu ròng ròng, nhưng vẫn mất công toi, chẳng có thần nào nghe lời cầu của họ cả. Đến chiều, là giờ thường quen tế lễ của đạo Chúa, Ê-li-a mới gọi dân chúng lại bên ông, ông lấy đá xếp thành một bàn tế lễ, đặt củi lên, xẻ thịt bò tơ đặt trên củi. Rồi ông sai đào chung quanh tế đàn một đường mương, và bảo dân lấy nước rưới lên của lễ, lên củi cho ướt đẫm, đến cả đường mương cũng đầy nước. Sau đó, Ê-li-a quỳ xuống cầu khẩn Danh Chúa: – Lạy Yavê Thiên Chúa Hằng Sống của A-bra-ham, I-sa-ac và Ya-cob, xin nhậm lời tôi, khiến dân này nhận biết chính Người mới là Thiên Chúa thật. Tiên tri vừa dâng lời cầu, lửa của Yavê từ trời giáng xuống thiêu hết của lễ, cả bàn thờ, cả củi và làm khô cạn cả nước trong mương. Toàn dân thấy vậy thì sấp mặt xuống kêu lên vang khắp vùng núi: – Yavê mới chính là Thiên Chúa thật và chỉ mình Người là Thiên Chúa. Đáp lại sự thờ phượng của dân, Thiên Chúa nguôi giận, lại cho mưa tuôn xuống, chấm dứt nạn hạn hán và đói kém của họ. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ta hãy để một phút im lặng, cho Lời Chúa vừa nghe thấm vào lòng ta (im lặng một phút). (Các lần sau, cũng làm như vậy)… Ta hãy suy niệm: Tiên tri Ê-li-a trách dân Is-ra-en hai lòng, bắt cá hai tay: vừa thờ Chúa, vừa chạy theo cúng bái thần Ba-an. Biết đâu, có nhiều gia đình công giáo cũng đi khập khiễng hai giò như thế! Có lẽ họ chưa dám đặt hai bàn thờ trong nhà: một bên thờ Chúa, một bên thờ thần nọ, thần kia; nhưng họ có những cử chỉ và lối sống giống như vậy. Miệng họ thì đọc kinh, tay thì làm dấu, chân đến nhà thờ; nhưng hễ trong gia đình động xảy ra đau ốm, hoạn nạn là chạy đi coi bói, xem số, hầu bóng, ngồi đồng, là các chước mê tín, dị đoan ma quỉ bày ra cốt để ta tin vào nó và thờ nó, hầu bị khốn nạn đời đời với nó sau này. Còn ngay bây giờ, có thể nó cho ta một chút của cải, một chút may mắn khi ta vái lạy nó; nhưng các của cải và may mắn đời này thật chóng qua, tạm bợ biết bao! Vậy gia đình ta hôm nay làm giờ đền tạ này, có ý xin Chúa tha thứ bao tội lỗi mà chúng ta đã phạm về điều ấy. Và gia đình ta thề hứa với Chúa không bao giờ thờ quấy hoặc tin theo các điều nhảm nhí, mê tín, dị đoan. Đúng như phong tục ta có câu: “Tôi trung không thờ hai chúa, Gái chính chuyên không lấy hai chồng” Vậy ta quyết chí tin một Thiên Chúa, chỉ thờ một Chúa, dầu sống dầu chết không tin, không thờ thần thánh nào hết. Tích truyện Một linh mục kia gặp một em nhỏ xin một tấm ảnh đạo. Linh mục nói: – Được lắm! Song con phải lập công để được quà thưởng ấy. Đây, con có thuộc giáo lý không? – Thưa cha, có! – Có à? Tốt lắm! Con nói cho cha biết: có mấy Thiên Chúa? Em nhanh nhẹn trả lời: – Có một Thiên Chúa thôi! – Sao con quả quyết chắc chắn như thế? – Chắc chắn chứ! Vì Thiên Chúa đầy tình thương và ở khắp nơi, đâu đâu cũng có Chúa. Vậy thì còn có chỗ nào cho một Thiên Chúa thứ hai nữa?

*** (Tiếp theo, xin xem chương trình đề nghị ở đầu… Các lần sau cũng làm như vậy).

BÀI LỜI CHÚA 2 KHÔNG BÓI TOÁN CẦU CƠ MÊ TÍN DỊ ĐOAN

Trích sách 1 Sa-mu-en, 28.3-25;31.1-13 Vua Sao-lê đã được Thiên Chúa sai tiên tri Sa-mu-en đến xức dầu cho làm vua trên Israen, dân Chúa. Tiếc thay, từ ngày ông phạm tội, không vâng lời Chúa trong một việc rất quan trọng, Chúa đã bỏ ông. Rồi càng ngày, ông càng đi vào con đường tội ác. Một ngày kia, quân Phi-li-tinh dàn đại binh tại Su-nem để đánh dân lsraen. Vua Sao-lê dàn quân trên núi Ghi-boa để đánh lại. Từ trên đỉnh núi nhìn xuống, thấy quân Phi-li-tinh trùng trùng điệp điệp, gươm giáo sáng lòa, xe trận hùng hậu, Sao-lê đâm sợ hãi, kinh hoàng. Vua thỉnh vấn Chúa để xin cho biết thắng bại làm sao. Chúa giận ông nên không trả lời. Muốn hỏi ý người phàm, thì có tiên tri; song lúc ấy, tiên tri Sa-mu-en chết rồi. Túng thế, Vua đánh liều đi hỏi bà đồng cốt. Như thế, nhà vua phạm thêm một trọng tội nữa nghịch mắt Chúa (sách 1 Ký sư 10.13) Sau khi đã cho bộ hạ tìm được một mụ đồng cốt trốn trong núi, đêm ấy, vua Sao-lê cải trang và mang theo hai ngươi tùy tùng ra đi. Đến nơi, Sao-lê nói: – Bà gọi bóng bói cho một quẻ, và gọi hồn người mà tôi sẽ chỉ cho bà. Bà ấy nói với vua: – Tại sao ông xúi tôi làm điều cấm để hại tôi? Sao-lê mới lấy Thiên Chúa mà thể sẽ không phạt vạ bà. Bà mới nói: -Tôi gọi hồn ai cho ông đây? -Kêu Sa-mu-en lên cho tôi! Bà đồng bắt đầu phù phép chiêu hồn. Khi thấy Sa-mu-en hiện lên, bà đồng đâm thất kinh la lớn. Sao-lê hỏi: – Đừng sợ! Bà thấy gì? – Tôi thấy có thần linh từ đất đi lên! Sao-lê hỏi: – Bà thấy dáng vẻ người thế nào? – Một cụ già đi lên, ngài có phủ một chiếc áo choàng. Sao-lê nhận biết đó là Sa-mu-en và ông sấp mặt xuống đất bái chào. Lúc ấy, tiếng Sa-mu-en huyền bí vang lên: – Sao ngươi quấy nhiễu ta? Gọi ta lên làm gì? – Tôi lâm phải thế rất ngặt nghèo: quân Phi-li-tinh giao chiến với tôi mà Thiên Chúa thì đã rời bỏ tôi; nên tôi phải kêu ngài lên. Xin ngài cho tôi biết phải làm gì? Sa-mu-en nói: – Thỉnh ý ta làm chi? Quá muộn rồi! Thiên Chúa đã từ bỏ ngươi. Điều Thiên Chúa đã sai ta báo cho ngươi trước kia, nay sẽ xảy đến. Thiên Chúa đã giựt vương quyền ra khỏi tay ngươi, mà ban cho Đa-vít; vì ngươi đã bất tuân, chẳng vâng theo lệnh Người. Đây là giờ đền tội: Thiên Chúa sẽ phó nộp dân Israen làm mồi cho địch quân chém giết tan tành. Còn ngươi, ngày mai, ngươi và ba đứa con của ngươi sẽ theo ta về âm phủ! Vừa nghe xong, Sao-lê kinh khiếp, ngã sóng sượt trên đất, bất tỉnh… Mãi lâu sau, ông gượng chỗi dậy về doanh trại. Ngày hôm sau, quả thật Israen đại bại. Quân Phi-li-tinh đuổi theo Sao-lê, ông run lên vì sợ: Sao-lê nói với. người hiệp sĩ theo hầu: – Ngươi tuốt gươm đâm chết ta đi! Đừng để quân ngoại đụng đến ta mà ngạo nghễ! Nhưng hiệp sĩ sợ không dám tra tay. Sao-lê đành tự rút gươm mình, quay ngược mũi và gieo mình lên trên. Mũi xuyên từ ngực ra sau lưng.* Đó là lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Luật Chúa cấm ngặt tất cả mọi hình thức lên đồng, nhập xác, gọi hồn, bói quẻ, vv… Đây xin trích vài đoạn trong Kinh Thánh: “Trong dân ngươi, không được có ai lên đồng, bói quẻ, chiêu hồn… Vì phàm ai làm các điều ấy sẽ là điều quái gở (là trọng tội) đối với Thiên chúa” (Sách Thứ luật, đ.18, c.10-11) “Các ngươi chớ chạy theo đồng bóng, đừng tới thầy bói mà ra nhơ uế vì chúng. Ta là Yavê, Thiên Chúa của các ngươi!” (Sách Lê-vi đ.19, c.31) “Người nào, dù là nam hay nữ, làm đồng bóng, người ấy tất phải chết. Người ta sẽ ném đá chúng đi! Tội chúng làm, chúng phải chịu phạt” (Sách Lê-vi, đ.20, c.27) Tại sao Chúa cấm ngặt vậy? Thưa: Vì Chúa nói: Chỉ Ngài là Yavê, Thiên Chúa độc nhất của ta, ta phải thờ lạy và tin vào một mình Người, và yêu mến Người trên hết mọi sự. Thiên Chúa không muốn ta liên lạc với ma quỉ, thông công với chúng là nghịch thù của Người. Chúng ta không thể thờ hai chủ. Đàng khác, các việc quấy quá kia đều là giả trá. Ngoại trừ trường hợp rất hoạ hiếm kể trong bài Kinh Thánh hôm nay: Thiên Chúa cho phép hồn tiên tri Sa-mu-en hiện về, cốt ý để báo phần phạt cho vua Sao-lê, chứ còn thường các nhà thần học đều dạy rằng: gọi hồn thì hồn không lên, mà chỉ có ma quỉ trá hình, đội lốt, đội tên, lấy giọng âm hồn mà nói, để mong lôi kéo ta vào vòng tin ma, lạy quỉ mà chết đời đời, khốn nạn với nó trong hoả ngục. Cho nên, có luật Hội Thánh cấm rất rõ ràng việc ấy, ai làm các điều ấy là phạm tội trọng. Ngoài ra, trong đa số trường hợp, bọn chiêu hồn, đồng bóng bày ra để phỉnh gạt ta mà kiếm ăn. Mất tiền, bị gạt, mà còn mắc tội với Chúa, nguy hiểm phần linh hồn, dại gì mà ta làm các điều quấy quá ấy! Là con cái Chúa, chúng ta có một Cha trên trời nhân từ, thương yêu, hằng săn sóc ta; ta hãy phó thác cho Người mới sự, lúc vui, lúc buồn, lúc người thân yêu trong gia đình chết, hoặc lúc lo lắng về công việc làm ăn, buôn bán, về tương lai, hậu vận… Kinh Thánh có lời rất an ủi rằng: “Cha trên trời biết rõ anh em cần gì trước khi anh em xin Người” (Mt 6.8). Và lời khác rằng: “Mọi nỗi lo âu, anh em hãy trút cả cho Người, vì Người lo đến anh em” (1Pr 5.7). Vậy hôm nay, gia đình chúng ta xin đền tạ Chúa, vì các tội nói trên đây mà chúng ta, những người con cái Chúa, hay phạm; và xin Chúa giúp sức để không bao giờ còn tái phạm. Tích truyện Ông Phan Kế Bính, một nhà học giả VN, có kể lại vài nhận xét của ông trong cuốn Việt Nam phong tục, khi thấy những chuyện đồng cốt, chiêu hồn. Ông viết: “Đồng mặc áo xanh, áo đỏ, đội khăn các màu, múa mang nhảy nhót ở trước cửa tĩnh, luồn ra luồn vào, ưỡn à ưỡn ẹo… Có người nói đồng cốt có cách múa mang õng ẹo cũng như cách nhảy đầm của đàn bà bên Tây. Nhảy đầm là một dịp cho đàn bà phô phang cái dáng yêu kiều, cái điệu ẻo lả. Tục ta không có cách ấy, nên phải mượn đến cách đồng bóng mà làm… Còn cái lòng mê tín của người có tật bệnh thì thật là lạ quá!… Họ không có chút nào dám ngờ vực phép thánh… Cúng mãi không khỏi, thì họ là người nhà không thành tâm, chứ không khi nào chịu là phép thánh không thiêng. Mà có lỡ chết, thì các mụ đồng lại nói: Thánh chữa được bệnh, chứ không chữa được mệnh. Thế ra khỏi bệnh thì là thánh thiêng, không khỏi là tại người nhà không thành, mà chết là tại mệnh. Đằng nào thánh nói cũng hay, đồng nói cũng phải… Than ôi! Đạo phù thuỷ cũng là đạo đồng cốt còn thịnh hành ngày nào, thì dân trí còn ngu xuẩn ngày ấy (tr.340-342).

BÀI LỜI CHÚA 3 THlÊN CHÚA LÀ ĐẤNG HẰNG SỐNG

Trích sách Tiên tri Đa-ni-ên, ch.14 Dân Ba-bi-lon có một thần tượng tên là Bel. Mỗi ngày, người ta phải tốn 12 giạ bột mì, 40 con cừu và 6 chum rượu làm đồ cúng. Vua cũng thờ lạy nó, chỉ có Đa-ni-ên thờ lạy Thiên Chúa chân thật. Vua hỏi: – Tại sao nhà ngươi không bái lạy thần Bel? Đa-ni-ên thưa: Hạ thần không sùng bái tượng thần do tay phàm làm ra, nhưng chỉ thờ Thần Sống, Đấng dựng nên trời đất và có chủ quyền trên mọi xác phàm. Sao? Ngươi cho Bel không phải là thần sống ư? Ngươi lại không thấy ngài ăn, ngài uống những gì mỗi ngày sao? Đa-ni-ên cười và nói: Tâu Bệ hạ, đừng lầm! Vị thần tượng ấy bên trong là đất thó, bên ngoài lát đồng, đã chẳng sống thì làm sao ăn uống? Nổi giận, vua triệu các thầy cúng lại mà nói: – Các ngươi mà không nói thật với ta ai ăn đồ cúng, thì các ngươi sẽ phải chết. Còn nếu các ngươi chứng tỏ được là chính Bel ăn, thì Đa-ni-ên sẽ phải chết, vì y đã dám lộng ngôn đến Bel. Tất cả mọi người đều đến đền của Bel, rồi họ đặt đồ cúng và rượu lên bàn thờ. Vua sai đóng cửa và niêm phong lại. Các thầy cúng ra vẻ tự đắc, vì họ đã đào bên dưới bàn thờ một ngõ bí mật, qua ngõ đó, họ lẻn vào ban đêm ăn sạch đồ cúng. Không ngờ Đa-ni-ên biết được, nên khi các thầy cúng đã ra, Đa-ni-ên sai các tiểu đồng rắc tro khắp cả nội điện trước mặt một mình Vua mà thôi. Đêm ấy, theo thói thường, các thầy cúng lẻn vào theo ngõ bí mật mà ăn uống hết sạch mọi sự. Sáng hôm sau, Vua và Đa-ni-ên đến rất sớm, bẻ ấn niêm phong, mở cửa vào nội điện. Khi vua nhìn lên bàn thờ, ông kêu lên: Lạy thần Bel, ngài thật lớn lao, và nơi ngài không có gì là gian dối! Đa-ni-ên cười, ông cầm tay vua lại, xin vua đừng đi vào bên trong, rồi ông nói: – Xin Bệ hạ nhìn xuống nền nhà mà coi những vết chân kia là của ai? – Ta thấy vết chân đàn ông, đàn bà và trẻ con. Đó là vết chân của bọn thày cúng và vợ con họ. Vua nổi giận, truyền trói các kẻ ấy và bắt họ chỉ cho vua ngõ bí mật họ đã dùng để đi vào ăn uống của cúng. Nhà vua thấy mình cũng bị bọn họ lừa, nên ra lệnh chém hết. Rồi vua trao tượng thần Bel cho tiên tri Đa-ni-ên phá huỷ và triệt hạ luôn cả Đền Thờ của nó… Xảy ra là khi dân Ba-bi-lon nghe tin, họ rất căm tức, tập họp nhau lại trước đền vua và la hét: – Xin nộp Đa-ni-ên cho chúng tôi! Chẳng vậy, chúng tôi sẽ giết ngài và cả gia đình ngài nữa. Bất đắc dĩ, vua phải nộp Đa-ni-ên cho họ. Họ tống Đa-ni-ên vào hầm sư tử bị đói lâu ngày để ăn thịt Đa-ni-ên… Vua rất thương tiếc Đa-ni-ên, ông tin chắc Đa-ni-ên đã bị sư tử xé xác. Ngày thứ bảy, vua đến trên hầm ngó vào, thì lạ lùng thay! Nhà tiên tri còn sống và bình an ngồi giữa bầy sư tử. Vua sửng sốt và vui mừng kêu lớn tiếng: – Người thật lớn lao, lạy Thiên Chúa của Đa-ni-ên thờ! Ngoài Người, không có thần nào khác nữa! Vua đã sai kéo Đa-ni-ên ra, còn những kẻ mưu hãm hại vị tiên tri, vua cho tống vào hầm. Lập tức, chúng bị sư tử nghiền ngấu tan xác trước sự chứng kiến của nhà vua. * Đó là lời Chúa! Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ta hãy nhớ lời Đa-ni-ên tâu vua: “Hạ thần không sùng bái các thần tượng do tay người phàm làm ra, bên trong là đất thó, bên ngoài tô sơn, trét màu, đã không sống thì làm sao ăn uống?” Vậy ra các thần nọ, thần kia chỉ là chuyện bày vẽ, tin nhảm, người đời đúc tượng ra, đem lên bàn thờ phong thần, phong thánh, rồi quì xuống xì xụp vái lạy… Đã chỉ là những tượng đất, gỗ đá không hơn không kém, không có sự sống, làm sao có thể nghe ta van vái mà phù hộ ta được? Hãy nghe tiên tri Ysaia chế diễu: “Kẻ kia đi kiếm gỗ trên rừng về, nó lấy một phần để sưởi, một phần đun bếp, nấu bánh, rồi sau khi ăn no nhậu say, sưởi ấm rồi, nó lấy gỗ thừa tạc một pho tượng làm thần, rồi sụp lạy bái thờ, lâm râm khấn nguyện, hắn nói: ‘Xin cứu lấy tôi, vì Người là thần của tôi’. Và tiên tri kết luận: Kẻ ấy thật là đứa không chút hiểu biết, vì đi sụp lạy một súc gỗ!” (Ys 44.14-19). Nếu họ nói rằng: chúng tôi đâu có sụp lạy một khúc gỗ, chúng tôi thờ thần sống, mà pho tượng chỉ là biểu hiệu tượng trưng; thì ta có thể hỏi vặn lại rằng: vậy thì thần sống ấy đâu rồi, ở đâu bây giờ? Kìa xem các vị thần thời xưa mà người ta coi như thần sống: nào thần Bel, thần Đa-gôn, dân Ai cập thờ thần rắn, bên Ca-na-an thờ thần Ba-an, nữ thần A-tac-tê, bên Hi lạp thờ thần Giu-pi-te, Mer-cu-rô, vv… Nếu các thần ấy đều là thần sống, thì chúng đâu rồi? Tại sao ngày nay chính các dân ấy cũng chẳng còn ai thờ các thần ấy nữa. Lạ chưa? Nếu các thần ấy tài giỏi và quyền phép, sao không cứu các dân đó mà để họ tiêu diệt mất tích trên địa cầu? Và nếu dân nào còn sống sót đến ngày nay, chẳng hạn như nước Ba Tư, Iran, Irắc, là con cháu của các dân As-sy-ri và Ba-bi-lon ngày xưa, sao ngày nay không thấy các dân ấy thờ các thần mà tổ tiên họ đã thờ ngày xưa? Vậy ra, các thần ấy chết hết cả rồi, và cũng chẳng thấy hoạt động nữa? Còn Thiên Chúa của chúng ta mới thật là “Thần sống, Đấng dựng nên đất trời và có chủ quyền trên mọi xác phàm” như Đa-ni-ên nói trên kia, tức là Người vẫn sống, đang sống và cứ sẽ sống mãi. Người phán: “Ta là Đấng Hằng Sống”. Người vẫn luôn hoạt động: 1/ Người tạo dựng đất trời và vẫn ra tay bảo tồn trời đất này cùng các sinh vật, trong đó có loài người chúng ta. 2/ Người sai Con Một của Người xuống thế, và vì yêu thương ta, bắt Con Một ấy phải hi sinh chịu chết để đền thay tội ta. 3/ Người đang hoạt động ban ơn cho ta được cứu rỗi. 4/ Người lại sai Đức Maria từ trời xuống, năm 1858 ở Lộ Đức, năm 1917 ở Fatima, để nhắn nhủ chúng ta ăn năn đền tội, cải thiện đời sống, từ bỏ tội lỗi để khỏi chết mất linh hồn, sa hoả ngục, và để thế giới được hoà bình hạnh phúc, tránh khỏi tai hoạ chiến tranh. 5/ Người đang chờ đợi ta nơi trường sinh vĩnh phúc!!! Vị thần này, chúng ta ngày nay và con cháu chúng ta mãi đến tận thế sẽ luôn thờ phượng, kính tin Người. Vậy chúng ta hãy vui mừng và hi vọng. Đừng bị đui mù, thiếu hiểu biết mà chạy đi van vái các thần khác những lúc ta gặp bệnh tật, gian nan, nghèo đói. Đó chẳng qua là do ma quỉ bày đặt ra, làm ta mắc mưu mà bỏ Thiên Chúa! Những lúc nguy khó ấy, ta phải lặp lại lời tiên tri Ysaia xưa: “Chỉ có Chúa là Thiên Chúa thật, Đấng tạo tác ra đất trời. Ngoài Chúa ra, chẳng có thần nào khác” (Ys 43.10-11; 45.21-22). Tích truyện Ta hãy nghe tích truyện “Hà Bá lấy vợ” trích trong cuốn Đông Chu Liệt quốc, hồi 85, để thấy các tên đồng cốt bày ra chuyện thần kia để “hốt bạc”. Vua nước Nguỵ sai tướng Tây Môn Báo ra trấn ở nghiệp Đô. Đến nơi, ông thấy dân cư thưa thớt, phong cảnh tiêu điều. Hỏi thăm các vị bô lão, ông được biết: Dân chúng khổ sở bỏ đi nơi khác, vì một nỗi Hà Bá lấy vợ. ở đấy có con sông, thần Hà Bá thích vợ đẹp, mỗi năm bắt nạp một người con gái, nếu không thần dâng nước, cửa nhà, ruộng vườn ngập hết. Tây Môn Báo hỏi: – Tại sao biết được Hà Bá lấy vợ? Các phụ lão nói: – Bọn đồng cốt ứng lên nói như vậy. Dân làng mỗi năm phải chịu mấy trăm vạn quan tiền dùng làm phí tổn trong việc ấy. Khổ nữa là nhà nào có con gái đẹp thì một là có nhiều tiền đút lót, bọn đồng cốt tha cho, đi tìm người con gái nhà khác; ai nghèo thì sợ mất con phải bỏ xứ mà đi… Chúng lập một nhà trai cung ở mé sông, mua lễ vật cúng tế, chọn ngày tốt cho người con gái tắm gội sạch sẽ, đặt ngồi trên bè cỏ, thả trôi giữa sông, trôi vài dặm thì bị chìm xuống nước… Biết đầu đuôi câu chuyện, Tây Môn Báo nhất định đi dự một kỳ. Hôm ấy, ông đội mũ mão chỉnh tề, có lính đi hầu, thân hành ra tận bờ sông. Dân chúng đến xem đông nghịt. Bọn hào lão dẫn ra một mụ đồng cốt đã già, theo sau chừng vài mươi tên đệ tử, khăn áo sặc sỡ. Tây Môn Báo gọi bà đồng ấy lại và nói: – Ta muốn xem mặt vợ Hà Bá kỳ này như thế nào. Người con gái được dâng đến, nàng không đẹp lắm, đang khóc lóc nước mắt giàn giụa và sợ sệt. Môn Báo nói với bà cốt: – Cô gái này không đẹp lắm, chắc Hà Bá không chịu lấy làm vợ. Ta phiền bà xuống nói với Hà Bá rằng quan Thái Thú muốn kén cho Hà Bá người vợ tuyệt đẹp. Vì vậy, xin hẹn vài hôm nữa. Dứt lời, ông sai kẻ tả hữu bắt bà cốt ném xuống sông. Ai nấy trông thấy đều sợ hãi. Ông ngồi yên chờ một lúc rồi nói: – Bà đồng này đã già, làm không được việc ta sai. Vậy phải có một người đệ tử xuống đó thúc hối. Tiếp đó, một người đệ tử bị ném xuống sông. Cứ thế liên tiếp 3 người. Cuối cùng, ông quay lại nhóm hào lão thường chia chác tiền nong trong vụ này, ông nói: – Bọn ấy đều là đàn bà, đi đứng chậm chạp, nói năng không nên lời. Ta phiền các ngươi xuống đó thuật lại ý kiến ta với Hà Bá xem thế nào. Nói xong, truyền quân bắt một hào lão trong bọn. Cả bọn đều sợ hãi, quì lạy và nói: – Ấy là bà đồng tìm cách phỉnh lừa dân chúng. Xin tha cho chúng tôi! Đừng bắt xuống đó mà oan mạng. Môn Báo trợn mắt hét: – Thế thì từ lâu nay, các ngươi đã phỉnh phờ dân chúng, sống trên xương máu của mọi người, tội ấy đáng chết. Cả bọn đều sụp lạy xin tha. Môn Báo nói: – Bà đồng cốt đã chết rồi. Từ nay về sau, ai còn nói đến Hà Bá lấy vợ, ta sẽ bắt người ấy ném xuống sông. Từ bấy giờ, dân chúng được sống yên ổn, khỏi ai phỉnh phờ, bóc lột. Những dân đi trốn, hay tin, lại trở về. Môn Báo lại khiến dân đào kênh lạch, khai thông nước trong vùng không còn đọng lại nữa, nên chẳng bao giờ bị ngập lụt, chứ có phải do Hà Bá nào dâng lên đâu. Ruộng nương nhờ những kênh lạch ấy mà có nước cày bừa, lúa má được mùa, cỏ cây tốt tươi, hương hoa thơm nức.

BÀI LỜI CHÚA 4 TIN VÀO THIÊN CHÚA QUYỀN PHÉP

Ta đang học về giới răn thứ nhất: “Thờ phượng một Thiên Chúa và kính mến Người trên hết mọi sự”. Ba bài trước đã nói sơ qua về sự tránh tin ma, thờ quấy. Bài 4 này, nói đến lòng tin vào Chúa. Tin Chúa, tin vào quyền phép của Người: đó là một việc thờ phượng làm đẹp lòng Chúa nhất. Thánh Phaolô viết: “Không có đức tin, thì vô phương làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Hr 11.6).Trích sách Yô-sua, ch.6 Khi dân Israen đã vượt qua sông Yor-đan trên đường tiến chiếm đất hứa, thành đầu tiên họ phải chiếm lấy để vào đất hứa thành Yê-ri-kô. Thành nay rất kiên cố: tường luỹ cao, dầy, đã bao năm ngăn các cuộc xâm lăng của đủ loại địch thù. Lại có đủ lương thực và khí giới để cầm cự những cuộc vây hãm lâu dài. Ông Yô-sua là đại tướng của dân Israen, ông sửa soạn đánh thành bằng lời cầu nguyện. Và này, Thiên Chúa nhậm lời cầu và phán: – Coi! Ta nộp vào tay ngươi thành Yê-ri-kô và vua của nó, cùng các chiến binh dũng cảm của nó. Nhưng các ngươi phải thi hành những mệnh lệnh như sau… Rồi Thiên Chúa dạy Yô-sua phải cho dân xếp thành đoàn kiệu: đi trước là hàng tiền quân, cầm khí giới, rồi đến 7 tư tế cầm bảy tù và cùng loa trận đi trước,chính giữa là khám Giao Ước được khiêng trên vai các tư tế, đi sau cùng là đoàn hậu quân. – Hãy đi diễu quanh thành và không được nói một tiếng nào, chỉ thổi tù và cùng loa trận! Thế là cuộc kiệu vĩ đại được diễu quanh thành Yê-ri-kô trong im lặng, dưới con mắt ngạc nhiên của quân lính đang giữ thành. Dân Israen đi kiệu như vậy trong sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, Yôsua ra lệnh: – Hôm nay, toàn dân sẽ đi kiệu quanh Yê-ri-kô như trước, chỉ khác là phải đi vòng quanh 7 lần và các tư tế sẽ thổi tù và cùng loa trận. Khi nào các ngươi nghe tất loa trận thổi inh ỏi và dài, các ngươi tất cả sẽ reo lên tiếng hò la xung trận. Toàn dân vâng theo mệnh lệnh. Đến lần kiệu thứ 7, khi nghe tiếng tù và, loa trận réo lên những tiếng rền vang, tức thì, toàn dân đồng reo lên tiếng hò la vang trời dậy đất. Tiếng hò la vang thấu trời. Đây là giờ Thiên Chúa hành động: các tường thành cao, dầy của Yê-ri-kô sụp đổ ầm ầm!!! Dân quân Israen cứ thẳng trước mặt mình mà tràn vào thành, giết không biết bao nhiêu mà kể, chỉ trừ gia đình cô Ra-kháp được tha, vì trước đó, đã cho các thám tử Israen ẩn núp. * Đó là lời Chúa! Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Chưa từng thấy trong lịch sử một cuộc hạ thành kỳ lạ như thế: đi kiệu, thổi tù và, loa trận, rồi reo hò mà tường luỹ sụp đổ, không tốn một mũi tên, không chết một người lính. Nhưng lạ hơn nữa là trước khi việc xảy ra, dân Israen được chỉ thị làm như thế mà họ tin được! Đó mới đáng cảm phục. Chắc cũng có người trong dân Israen thắc mắc tự hỏi: “Sao Chúa dạy điều gì khó tin vậy: đi kiệu, thổi loa, rồi thành sẽ đổ?”. Nhưng may thay, lòng tin của họ đã thắng lý trí: Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, phép tắc vô cùng, không có gì là quá khó đối với Người. Người không dùng khí giới, song dùng một cuộc kiệu, một lời reo hò làm dụng cụ phá đổ thành thì vẫn được chứ! Quyền phép của Người thì chỉ một hơi thở cũng mạnh như gió bão. Người đã dạy, phần họ chỉ việc tin theo. Bởi tin như thế, dân đã tôn vinh Thiên Chúa, làm Ngài rất đẹp lòng, và đáp lại, Người đã thực hiện một phép lạ không thể tưởng tượng nổi. Quả thật, bây giờ ta biết được rằng: tin là tôn vinh Thiên Chúa, là một việc tôn thờ Người, và đẹp lòng Người hơn hết mọi việc khác. Đúng như lời Kinh Thánh nói: “Không có đức tin thì vô phương làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Hr 11.6), cho dù ta có làm các việc lành khác như xây nhà thờ, bố thí, xin lễ, dự lễ, truyền giáo, đọc kinh… Đức tin không chỉ gồm có việc “tin Thiên Chúa có” mà thôi, mà còn tin vào Người là Đấng có quyền lực dư sức đề cứu thoát ta phần hồn và ngay cả phần xác nữa. Thành luỹ Yê-ri-kô kiên cố, Người phá đổ như chơi; thì tội lỗi chúng ta dù có thâm căn cố đế đến đâu, có lâu ngày lâu tháng, hoặc tính mê nết xấu của ta có dầm dề, có nặng nề, hay lớn lao, Thiên Chúa vẫn có thể dư sức cứu gỡ ta, miễn là ta tin vào quyền phép và cầu xin Người. Vậy gia đình ta hôm nay, làm giờ đền tạ này để tạ lỗi Chúa, vì bao lần ta đã không tin vào Chúa như Chúa đáng, bao lần tin vơ thờ quấy vào thần nọ thần kia, như thể Chúa không thể cứu chữa ta hay không thương mà cứu chữa… Cũng xin đền tạ Chúa cho bao kẻ đã mất lòng tin, ngã lòng trông cậy: hoặc vì thấy tội mình quá lớn, hoặc vì gặp nhiều đau khổ, thử thách, mà cảm thấy như bị Thiên Chúa bỏ mặc không cứu giúp… Tích truyện Trong cuộc thế chiến thứ hai, khi không lực Đức quốc xã tấn công thủ đô Luân Đôn, có một toà nhà bị bom bốc cháy. Ngọn lửa bùng lên dữ dội và lan rộng khấp nơi. Nhân viên cứu hoả kéo đến cứu chữa. Trong khi đó, người ta nhìn thấy một người đàn bà đứng kêu cứu nơi cửa sổ một lầu cao. Nhân viên cứu hoả liền khẩn cấp dựng một cái thang, rồi anh dũng xông vào giữa đám cháy lửa bốc mù mịt, leo lên tới chỗ bà ấy đứng, rồi giơ tay định đỡ bà lên vai mình cõng xuống, để cứu bà thoát hiểm. Nhưng bà ấy không chịu và chạy vào phía trong. Sau mấy lầy giơ tay không được đáp ứng, đội viên cứu hoả bất đắc dĩ phải xuống thang, để cứu người khác đang chờ mong được thoát hiểm. Khi đã xuống mặt đất, nhân viên phát khóc với đội trưởng mình: – Tôi muốn cứu, nhưng nàng không chịu! Bà ấy chết cháy là vì không tin rằng nhân viên cứu hoả có thể cứu bà thoát nguy. Vậy, hỡi người nào nghe chuyện này! Nếu bạn sau này phải hư mất đời đời trong biển lửa hoả ngục, thì chẳng phải Chúa không muốn cứu bạn đâu, nhưng là tại bạn đã từ chối chẳng chịu tin lòng Chúa muốn cứu bạn, chẳng chịu tin quyền phép Chúa có thể cứu bạn khỏi cơn nguy khủng khiếp của cái chết đời đời. Bạn đã cố tình bỏ rơi hi vọng duy nhất để được cứu. Vậy bạn phải làm gì bây giờ? Bạn chỉ việc tin vào lòng Chúa thương. Bạn chỉ việc tin vào quyền phép Chúa có dư sức mà cứu bạn, vì không có gì quá khó đối với Chúa, không có tội nào quá lớn mà Người không thể tha, không có ngăn trở nào quá cao để Người không vượt nổi mà cứu bạn. Bạn hãy cứ thành tâm tin Người, rồi để Người làm việc, bạn sẽ thấy kết quả!

BÀI LỜI CHÚA 5 ĐIỀU RĂN THỨ BA PHỤNG TỰ THIÊN CHÚA. NGÀY CHÚA NHẬT

Thiên Chúa đã yêu thương loài người, đã dựng nên họ để chia sẻ cho họ vinh quang và hạnh phúc tràn trề của Người. Đáp lại tình thương và ơn tạo dựng ấy, loài người phải làm gì? Thưa: – Phải tạ ơn Người, – Phải thờ phượng Người, – Phải vâng theo lề luật của Người. Vì có hồn và có xác, nên loài người phải dâng lên Thiên Chúa các việc nói trên bằng cả hồn và cả xác, tức là bề trong lẫn bề ngoài. Ở bề trong tâm hồn, ta dâng lên Người các tâm tình thờ lạy, tạ ơn, tuân phục rất chân thực, rất thiết tha. Ở bề ngoài, phải dùng các cử chỉ, lễ nghi, lời nói mà biểu lộ các tâm tình bên trong. Cho nên, việc tế tự phải gồm cả bên trong lẫn bên ngoài. Hơn nữa, vì loài người không sống cô độc, riêng rẽ, song hợp thành gia đình, xã hội; nên việc tế tự cũng phải mang tính cách xã hội, cộng đồng, công khai. Để giúp loài người thờ phụng đúng ý Thiên Chúa, nên ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã thiết lập việc tế tự ấy, cách đây khoảng 3.250 năm. Ta hãy nghe vài đoạn Kinh Thánh về điều đó.Trích sách Xuất hành (13.10-11,16-20;20.1-24;24.3-8) Thiên Chúa phán với Môsê: – Hãy đi đến với dân và thánh hoá chúng hôm nay và ngày mai: chúng hãy giặt giũ áo xống và lo dọn mình, sẵn sàng vào ngày kia, Thiên Chúa sẽ xuống trước mắt toàn dân, trên núi Si-nai. … Đến ngày thứ ba, ngay buổi sáng, xảy có sấm chớp và mây dầy đặc trên núi, và tiếng loa rất mạnh: toàn dân trong trại đều run khiếp. Môsê đem dân ra khỏi trại nghinh đón Thiên Chúa: họ đứng dưới chân núi. Tất cả núi Si-nai nghi ngút khỏi, vì Thiên Chúa xuống núi trong lửa. Khói bốc lên như khói lò thiêu. Tất cả núi đều rung chuyển mạnh. Tiếng loa mỗi lúc một tăng rất lớn. Môsê thưa chuyện với Thiên Chúa, và Thiên Chúa đáp lại ông trong tiếng sấm. Yavê Thiên Chúa xuống trên núi Si-nai, trên đỉnh núi, và Thiên Chúa gọi Môsê lên. Khi ông đã lên, Thiên Chúa phán các lời này rằng: – Ta là Yavê, Thiên Chúa của ngươi… Ngươi sẽ không tôn thờ thần nào khác trước mặt Ta… Ta là Thiên Chúa ghen tuông phạt tội cha ông trên con cháu đến ba bốn đời đối với ai thù nghịch Ta, nhưng sẽ giữ nghĩa và ban ơn dư ngàn cho những ai yêu mến Ta và giữ các lịnh truyền của Ta… Ngươi hãy nhớ giữ ngày Chúa nhật, để thánh hoá ngày ấy… Ngươi sẽ không làm việc trong ngày ấy… Bởi thế, Thiên Chúa đã chúc lành cho ngày ấy và tác thánh nó. Tiếp theo, Thiên Chúa ban các điều luật khác của 10 điều răn: nào thảo kính cha mẹ, chớ giết người, vv… Toàn dân thấy sấm sét và lửa cùng tiếng loa và núi bốc khói, thì rụng rời và đứng mãi đàng xa… Nhưng Môsê đã nói với dân: – Đừng sợ! Thiên Chúa đã hiện đến cách uy linh như vậy, cốt để các ngươi có lòng kính sợ Người, ngõ hầu các ngươi đừng còn dám phạm tội nữa. Sau khi ban lề luật, Thiên Chúa ban bố cách phụng tự Người: – Ngươi sẽ dựng tế đàn, và trên đó, ngươi sẽ dâng tế lễ toàn thiêu, tế lễ kỳ an, chiên, dê và bò, lừa của ngươi… Môsê xuống thuật lại cho dân mọi lời của Thiên Chúa và các lệnh truyền. Toàn dân đồng thanh đáp lại: Mọi lời Thiên Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành. Và để ký kết Giao Ước, Môsê đã xây một tế đàn, rồi ông dâng một tế lễ lên Thiên Chúa. Ông lấy một nửa máu các vật tế lễ rẩy lên tế đàn (là nơi Thiên Chúa ngự) và nửa phần máu kia rẩy lên dân và nói: – Này là máu của Giao Ước đã kết với các ngươi, theo các lời Thiên Chúa đã dạy và các ngươi đã quyết ý tuân theo.- Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ta vừa nghe Lời Chúa, kể tóm tắt việc Thiên Chúa hiện ra cách uy linh trên núi Si-nai, để truyền 2 điều đáng ghi nhớ: – Thiên Chúa dạy phải thờ phụng một mình Người, và giữ 10 điều răn. – Sau đó, Người bảo phải lập tế đàn mà tế lễ lên cho Người. Chúng ta không trích nhiều đoạn khác đi vào chi tiết: nào là các loại tế lễ khác nhau: tế lễ toàn thiêu, tế lễ cầu an, tế lễ đền tội, tạ ơn… Rồi các ngày lễ hội: lễ Vượt qua, lễ Lều Tạm, lễ Cầu mùa… Các nghi lễ như cắt bì, phong chức, các tổ chức phụng tự, các việc thanh tẩy, các điều luật luân lý… Ngày xưa, Thiên Chúa thiết lập việc tế tự cho dân Israen; ngày nay, Thiên Chúa dạy Hội Thánh thiết lập các nghi lễ, Thánh Lễ và các Bí tích, có phải là để làm khổ dân không? Thưa không! Thiên Chúa đầy yêu thương, lẽ đâu lại bày chuyện để làm khổ con cái. Vậy Người muốn gì? Người muốn dùng các nghi lễ ấy mà thánh hoá ta, ngõ hầu ban ơn phúc cho ta. Lý do thêm nữa: từ khi loài người mắc tội tổ tông truyền, đã ra u mê, lầm lạc, quên bổn phận thờ phượng Thiên Chúa, thậm chí nhiều người không còn biết Thiên Chúa thật là ai mà thờ, lại bày ra nhiều thần vu vơ, quấy quá (có dân thờ rắn, thờ bò cái, thờ hà bá…), thế là mất công mất của, mà lại hư đi đời đời, uổng kiếp người. Nên Thiên Chúa đành hiện ra, dạy cho chúng ta việc tôn thờ, tế tự hợp ý Người, đúng ý Người. Trong vô số các việc khác, việc thờ phượng tốt đẹp nhất là dâng Thánh Lễ, cách riêng cùng với cộng đoàn trong ngày Chúa nhật. Nhưng xét thấy nhiều người không chu toàn bổn phận ấy cho xứng đáng: nào đi dự lễ cách ơ hờ, nguội lạnh, miễn cưỡng, vì sợ không đi thì phạm tội mất linh hồn, sa hoả ngục, chữ không vì yêu mến, quí trọng Chúa. Lúc dự Thánh Lê thì lòng trí lo ra, chẳng cầm trí tưởng nhớ đến Chúa, đến các việc tế lễ đang diễn hành, mà chỉ nhớ các điều thế gian, phàm tục, hoặc tệ hơn nữa, nhớ đến vui chơi, tội lỗi… Còn có một số người khác lấy cớ nọ, cớ kia bỏ lễ Chúa Nhật: nào sợ ho, sợ cảm, sợ lạnh, sợ mất buôn bán, mất lời… Mà lạ thay! Khi đi chơi ngày Chúa nhật, thì họ chẳng hề sợ những điều ấy… Có người than rằng: Thánh Lễ ngày Chúa nhật dài quá! Có Đức Giám Mục kia đáp lại rằng: “Không phải Thánh Lễ Chúa nhật dài, song là lòng đạo đức của các người quá ngắn!”. Lại có một số người khác chủ trương: đạo tại tâm, không cần đi lễ, ở nhà thờ phượng Chúa trong lòng cũng đủ. Đáp lại, ta hãy suy rằng: nếu đạo tại tâm cũng đủ, thì sao Thiên Chúa lại hiển hiện, để thiết lập các nghi lễ, các tế lễ làm gì cho mất công? Gia đình chúng ta hôm nay làm giờ đền tạ Chúa, vì các tội lỗi đã ơ hờ, bỏ quên hay lơ là với việc thờ phượng Chúa bên trong cũng như bên ngoài. Xin Chúa mở mắt chúng ta ra, để kịp thời nhận biết, thờ phượng và yêu mến Chúa. và cho chúng ta biết rằng: như thế là phúc cho ta! Đừng để một ngày nào đó, vào giờ chết, ta ước ao chớ gì sống thêm nửa giờ để tham dự một Thánh Lễ cuối cùng thờ lạy Chúa mà không được. Tích truyện Trong họ đạo kia, có một người làm công, làm việc cả tuần, đến ngày Chúa nhật, ông ta cũng bỏ không đi dâng Thánh Lễ, để ở nhà làm việc. Một bôm, cha sở đến thân mật khuyên ông hãy thánh hoá ngây Chúa. ông trả lời: Cha xem! Gia đình con đông miệng ăn: một vợ và 7 đứa con. Nếu con nghỉ tay ngày Chúa nhật, thì lấy gì ăn? Con muốn lắm mà không có giờ. Một lần khác, cha sở đến lại, vẫn thấy thế, ngài nói: Tôi với anh giao kèo: anh hứa vôi tôi trong suốt năm nay không làm việc ngày Chúa nhật, để có giờ đi dâng lễ và nghỉ ngơi, thánh hoá ngày của Chúa. Phần tôi, tôi hứa với anh là anh sẽ không thiệt gì đâu! Hãy trông cậy vào Chúa quan phòng! Người lo cho chim trời có của ăn, lo cho hoa đồng có màu áo đẹp; thì cũng sẽ lo cho con cái Người không phải thiếu thốn, như chính Người đã hứa trong Phúc Âm: ‘Hãy lo tìm kiếm Nước Trời và sự công chính của Người trước đã, còn của ăn, áo mặc, Người sẽ ban thêm cho sau”. Và này anh, giả như anh có bị thiếu thốn, tôi đây cam đoan sẽ đền bù chỗ thua thiệt ấy cho anh tất cả! Giao kèo ký kết xong. Cuối năm, cha sở đến thăm. Ngài nói: – Theo như giao kèo đầu năm, bây giờ tôi phải đền bù cho anh bao nhiêu? Ông ta mở to mất nhìn cha trả lời: – Không một xu nào cả! Mặc dầu con phải giữ ngày Chúa nhật, thế mà con vẫn kiếm lời hơn năm ngoái. Hơn thế, trong gia đình con. cuộc sống đã đổi thay: vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn, đầm ấm hơn. Thật chưa bao giờ xảy ra như vậy! Cha sở nói: Anh vừa nói mặc dầu phải giữ ngày Chúa nhật… Anh nên nói: nhờ giữ ngày Chúa nhật mà gia đình anh được mọi điều hạnh phúc hơn mới đúng! Thôi! Chúng ta hãy tạ ơn Chúa, là Cha hằng săn sóc cho các con cái vẫn tin cậy vào Người. Phần tôi cũng chia vui với gia đình anh!

BÀI LỜI CHÚA 6 ĐIỀU RĂN THỨ HAI: CHỚ KÊU TÊN CHÚA VÔ CỚ

Hôm nay, ta nghe Chúa dạy về điều răn thứ hai: “Chớ kêu tên Chúa vô cớ”. Đúng ra, phải dịch thế này: chớ nêu danh Chúa cách hư từ (Xh 20.7), nghĩa là nêu danh, hoặc lấy tên Chúa mà dùng trong những chuyện hư từ, thề thốt bừa bãi, chứ không phải chỉ kêu tên Chúa vô ý vô tứ mà thôi đâu, như khi động một tí là ta kêu: Giêsu! Maria! Điều răn này gồm cả những điều cấm khác như: chớ thề gian, làm chứng gian, hứa bừa bãi, nói lộng ngôn, sử dụng danh Chúa làm phù phép, vv… Trong Thánh vịnh 15 có câu như sau: “Lỡ thề, nếu có thiệt thòi, Thì ta cũng quyết chẳng hề đổi thay”. Đó là đầu đề của bài sách thánh hôm nay.Trích Sách Yô-sua, 9.3tt Thành Yê-ri-kô đã bị hạ, dân cư bị quân Israen giết sạch. Một thị trấn bên cạnh là Ga-ba-ô sợ quá, biết không thể địch nổi dân riêng của Chúa, họ bè dùng mưu. Họ gửi một phái đoàn, dùng lừa chở lương thực trong những bị cũ rích, những bì rượu lủng vá chằng chịt, chân mang dép cũ mòn, mình mặc áo xống rách tả tơi, bánh ăn đi đường đã cứng khô rời thành vụn. Phái đoàn đến gặp ông Yô- sua, đại tướng, và các tướng lãnh của ông tại Gin-gan mà nói: – Chúng tôi từ phương rất xa đến để xin cầu hoà với các ông, vì chúng tôi đã được nghe đồn về các việc oai hùng Thiên Chúa các ông đã làm ở Ai Cập, và tiêu diệt bao vua chúa ở các nước quanh đây. Hàng kỳ mục chúng tôi đã sai chúng tôi đến xin các ông kết ước giao hảo với chúng tôi. Xin các ông miễn chấp cách ăn mặc không đàng hoàng của chúng tôi, khi ra mắt các ông. Số là khi bỏ nhà ra đi, bánh chúng tôi rỡ còn nóng hổi, bây giờ đã khô queo, vỡ thành vụn. Này bì rượu khi chúng tối đổ đầy rượu vào thì còn mới, mà nay chúng đã lủng cả. Này áo xống và giày dép chúng tôi đã ra cũ rách, vì đường xa dặm thẳm. Đủ biết chúng tôi từ rất xa mà đến. Kỳ thực, họ từ Ga-ba-ô đến, một thị trấn ngay bên cạnh. Thiên Chúa có ra lệnh cho dân Israen phải đánh lấy các thành gần chung quanh mình, và triệt hạ hết, để lấy làm đất định cư cho họ, đất không còn có dân ngoại nào sống chung trà trộn, sợ họ sẽ lôi kéo, cám dỗ dân riêng Chúa, mà thờ các tà thần của họ. Yô-sua và các tướng lãnh liền tin lời phái đoàn nọ, lại quên không thỉnh vấn Thiên Chúa, đã vội làm hoà và kết ước với họ bằng một lời thề long trọng, là sẽ bảo đảm sinh mạng của họ. Sung sướng vì thấy mưu cơ thành công, phái đoàn nọ đã trở về xứ, mang theo lời thề của Yô-sua. Ba ngày sau, khi quân Israen tràn đến Ga-ba-ô, họ hết sức kinh ngạc gặp lại những người trong phái đoàn hôm trước ở đó. Té ra, họ bị gạt mà tưởng rằng chúng là dân ở một thành rất xa. Tức giận, quân Israen muốn tuốt gươm tàn sát hết cả dân Ga-ba-ô ấy, nhưng Yô-sua và các tướng lãnh ngăn cản: – Chúng tôi đã lấy danh Yavê Thiên Chúa của Israen mà thề với chúng, và bây giờ, chúng tôi không thể đụng đến mạng sống chúng được. Chúng tôi sẽ xử với chúng thế này: tha cho chúng sống, ngõ hầu thịnh nộ Thiên Chúa không giáng xuống trên ta vì đã bội thề; nhưng từ nay, bắt chúng làm phu chẻ củi, gánh nước cho công hội và cho việc tế tự ở Đền Thờ Thiên Chúa. Nghe vậy, dân Israen vẫn còn hậm hực, và họ trách các ông nhiều lắm, nhưng đã lỡ thề, biết làm sao… * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Thật họ đã làm đúng câu Thánh vịnh trên kia đã nói: “lỡ thề, nếu có thiệt thòi; thì ta cũng quyết chẳng hề đổi thay”. Họ nghĩ: đã lấy Danh Chúa mà thề, thì lỗi thề là xúc phạm đến Chúa; vì lấy Danh Chúa làm chứng cho một sự dối gian, như vậy sẽ kéo cơn thịnh nộ Chúa giáng trên họ. Thế là hết, song tại sao lại vội thề làm chi? Kinh Thánh cho biết lý do: sở dĩ các ông thề vội, thề khi không biết sự thật, là vì các ông không thỉnh vấn ý Thiên Chúa trước. Nói cách khác, các ông không cầu nguyện để biết Thánh ý Chúa. Vậy, ta rút bài học này: trước khi thề hứa hay khấn điều gì, cách riêng điều quan trọng, hãy cầu nguyện cho biết ý Chúa trước, hãy tìm đến các người đại diện Chúa, ít ra các bậc khôn ngoan, hiểu biết đường lối Chúa chỉ vẽ cho… Rồi, khi đã thề, đã hứa với ai, nhất là với Chúa, thì chớ bội thề (x Dân số 30.3; Thứ Luật 23-22-24; vv…). Có người khấn hứa với Chúa, với Đức Mẹ: nếu Chúa và Mẹ thương ban cho họ được điều này, điều nọ, thì họ sẽ làm việc này, việc kia để lò lòng biết ơn. Thế rồi, làm được vài lần, họ bỏ lơ…, quên dần… Thế là có lỗi nặng với Chúa. Đành rằng, có lúc ta thấy không làm nổi lời đã hứa với Chúa. Lúc ấy, hãy đến trình bày với linh mục đại diện Chúa tại toà hoà giải, xin ngài cứu xét và thay đổi việc khác vừa sức cho ta hơn. Trong cuộc sống hàng ngày, biết bao lần ta hứa với người khác rồi lỗi lời. Lấy ví dụ một việc hay thấy xảy ra: Ta hứa bán hoặc nhường lại món hàng cho người kia với giá bao nhiêu đó. Về nhà, nghĩ lui nghĩ tới, hoặc nghe ai nói, ta cho là đã hớ; tiếc của, ta tìm cách tháo lui không bán nữa, lấy cớ thế này, thế nọ… Thế là lỗi lời! Ta có lỗi trước ra Chúa và trước mặt người đồng loại. Ngay cả khi trót hứa với con cái, hoặc người trong nhà, cho nó cái nọ, cái kia, ta hãy thực hiện lời đã hứa. Vì lời ta nói là trọng. Nếu ta không tự trọng mình bằng cách giữ lời đã hứa, làm sao bắt người khác tôn trọng ta được? Đừng nghĩ nó là con nít, hứa đại rồi bỏ lơ cũng không hề gì… Một lời thề hứa trọng đại mà phần đông chúng ta ai cũng thề và sẽ thề, đó là thề hứa trong lễ cưới giữa vợ chồng, trước mặt Chúa, ta sẽ yêu thương nhau suốt đời, khi vui lúc buồn, khi thịnh lúc suy, khi khoẻ mạnh cũng như lúc già yếu, xấu xí… Chúng ta có giữ lời thề hứa long trọng mà ta đã cam kết trước mặt Chúa, trước mặt Hội Thánh, trước mặt các chứng nhân và họ hàng hai bên đó không? Đến đây, chúng ta thấy Đức Chúa Giêsu có một lời dạy đi xa hơn lời thề hứa. Ngài nói: “Các ngươi đã nghe bảo người xưa: chớ bội thề, hãy trọn lời thề với Chúa. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: Đừng thế thốt chi cả! Nhưng lời của các ngươi phải là: có (thì nói) có, không (thì nói) không, kỳ dư là tự ác tà (ma quỉ) mà ra cả” (Mt 5.33-37). Chúa dạy: không chỉ giữ lời thề, mà còn “đừng thề thốt chi cả”, tức là bỏ đừng đùng lời thề nào nữa. Tại sao? Vì thề cốt để người ta khỏi nghi ngờ lòng thành thực của mình, lời quả quyết của mình. Mà chúng ta, từ khi chịu phép Rửa tội, được vào sống trong Nước Thiên Chúa, giữa anh chị em trong Hội Thánh, cùng là con cái Thiên Chúa với nhau, tất nhiên tất cả chúng ta đều đã chấp nhận Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối chân thật và thuỷ chung, làm Cha của mình, và chấp nhận sống kính cẩn, tôn trọng và yêu thương anh chị em mình, thì – con giống cha là nhà có phúc – ta phải làm sao để mọi sự đều là thành thực với nhau, đến nỗi chẳng cần lời thề nào nữa để bảo đảm. Có thì nói có, không thì nói không, không thêm bớt, không trí trá, không lươn lẹo. Vì Chúa bảo: mọi cái thêm bớt, lươn lẹo, cong queo, gian trá đều do tà ma xui khiến, nghĩa là do ảnh hưởng của ma quỉ, nó là cha của sự gian dối, láo khoét, như Chúa nói trong Tin Mừng Gioan (8.44), hoặc do ảnh hưởng của sự dữ đang cai trị cả thế gian này. Nó xui khiến người này dối trá, lừa bịp người kia, làm liểng xiểng sự tín nhiệm giữa con người. Chính vì cái nạn đó mà người ta phải bày ra đủ thứ luật pháp, phải cần đến lời thề…, mà nếu thề đã là quá rồi, lại còn nuốt lời thề nữa, thì hết nước nói. Đã đành, nói như trên, không phải Chúa cấm các tín hữu tuyệt đối không được sử dụng lời thề. Trong vài trường hợp đặc biệt có thể dùng (tỉ dụ T. Phaolô cũng dùng vài lần: Rm 1.9; 2Cr 1.13; Ph 1.8; vv…), nhưng đó là vì xã hội mà tín hữu đang sống đòi buộc – nhất là xã hội ngoại giáo – là nơi loài người không tin nhau, không chấp nhận Thiên Chúa chân thật là Cha mình, họ đầy gian dối, lừa gạt, do ảnh hưởng sự dữ, và ma quỉ đang ngự trị cả thế gian tội lỗi; do đó, họ không tin ta có thể thành thật, nếu không có lời thề bảo đảm. Vậy hôm nay, gia đình ta xin đền tạ Chúa, xin Chúa tha thứ bao lẩn ta đã thế thốt hư từ, đã khấn hứa mà chằng giữ lời. Rồi từ nay dốc lòng quyết chí không làm như thế nữa. Cách riêng, xin lưu ý tránh những lời thề bừa bãi như: “Tôi nói điêu tôi chết”, “Nếu tôi nói sai xe cán chết”, hoặc “chết bỏ chồng bỏ con”…; nhất là các cô các cậu thanh niên và các em nhỏ, tránh bắt chước người lương chửi thề những câu như “đù má”… Tất cả các lời ấy nay là thói quen khó chữa thật, song cũng là lời bất xứng, có lỗi trước mặt Chúa, như lời Kinh Thánh dạy: “Đừng có lời hư từ nào lọt khỏi miệng anh em, nhưng lời lẽ phải lương thiện, có tính cách xây dựng, hầu sinh ích cho người nghe” (Ep 4.29). “Và những điều thô tục, chuyện nhảm nhí hay trò cợt nhả, đều là những điều chẳng xứng” (5.4). Tích truyện Thày Tử Lộ, là học trò Đức Khổng Tử, một hôm, ông từ ngoài ngõ về nhà, thấy vợ ẵm con khóc, dỗ mãi không nín. Bà vợ mới trỏ con heo đang ăn ngoài sân mà nói: – Thôi con nín đi! Chốc nữa bố về, mẹ bảo bố giết heo cho con ăn Nhé! Đứa bé nghe bùi tai, thôi khóc. Thấy lừa được con hết khóc, bà coi như xong chuyện, không còn nghĩ gì đến lời hứa. Đến trưa, thày Tử Lộ thấy vậy, gọi vợ đến trách rằng: – Con nó còn nhỏ, nó tin vào lời cha mẹ là nói thật, tại sao bà hứa giết heo cho con ăn, mà không giữ lời. Như thế, lớn lên nó sẽ không tin vào cha mẹ nữa. Đàng khác, bà đã làm nó bắt chước nói dối, hứa mà không giữ lời. Trách vợ xong, ông ra ngoài sân, bắt heo, làm thịt cho con ăn.

BÀI LỜI CHÚA 7 NÓI LỘNG NGÔN PHẠM THƯỢNG

Trích sách 2 Các Vua, ch. 18-19 Vua Ê-dê-kia, trị vì nước Yuđa, là ông vua rất đạo đức, luôn làm điều ngay chính trước mắt Thiên Chúa và giữ các điều răn; nên Thiên Chúa đã hộ phù ông, giúp ông thành công trong mọi việc ông làm. Ông đã khởi nghĩa chống lại vua As-sua, là Sê-na-kê-ríp, bẻ gẫy gông cùm nô lệ… Tức giận, Sê-na-kê-ríp sai sứ giả cao cấp đến cùng vua Ê-dê-kia ở Yêrusalem để trao tối hậu thư, bắt vua này phải đầu hàng. Sứ giả dùng những lời thách thức thoá mạ, và còn dám nói lộng ngôn xúc phạm Thiên Chúa: – Hãy nhắn với vua Ê-dê-kia rằng: Đại Đế As-sua nói thế này: Ngươi cậy vào ai mà dám dấy loạn với ta? Hẳn ngươi sẽ nói: chúng tôi cậy vào Yavê Thiên Chúa của chúng tôi. Ta dám thách đố làm sao ngươi có thể đẩy lui được một viên tướng nhỏ nhất của ta đó. Rồi sứ giả kia quay sang phía các quần thần vua Ê-dê-kia nói tiếp: – Các ngươi đừng nghe theo vua các ngươi, vì nó phỉnh các ngươi mà rằng: Yavê sẽ cứu chúng ta. Kìa xem các nước chung quanh, có thần nào của họ đã cứu xứ mình khỏi tay ta đâu? Đừng hòng trông vào Yavê Thiên Chúa các ngươi cứu được Yêrusalem khỏi tay ta! Các quần thần về gặp vua Ê-dê-kia và kể lại các lời lẽ của sứ giả. Vừa nghe, vua xé áo, mặc lấy bao bị, tỏ dấu phẫn uất và tạ tội trước lời lộng ngôn ấy, rồi ông vào Đền Thờ của Chúa mà cầu nguyện rằng: – Lạy Yavê, Thiên Chúa của Israen, Đấng ngự trên các Vệ binh thần, chính Người mới là Thiên Chúa trên mọi nước trần gian. Xin Người hãy nghe lời vua As-sua, sai sứ thần đến thách đố và mạ lị Người. Đã hẳn, vua As-sua đã tàn phá các dân tộc và xứ sở của chúng và cho lửa thiêu các thần của chúng, vì đó không phải là Thiên Chúa, mà chỉ là tượng gỗ, tượng đá do tay người phàm làm ra. Và bây giờ, xin Chúa cứu chúng tôi khỏi tay nó, để mọi nước trên trần nhận biết chính Người mới là Thiên Chúa thật! Thiên Chúa sai tiên tri Ysaia đáp lại với vua thế này: – Ta đã nghe lời ngươi khẩn cầu nhân vụ vua As-sua. Đừng sợ trước những lời thách đố lộng ngôn của hắn. Này Ta sẽ cho hắn nghe một tin hung dữ, mà cấp tốc rút lui nhục nhã. Ta sẽ cho hắn bị ngã gục vì gươm đâm chính ở quê nhà… Còn Yêrusalem, Ta sẽ che chở thoát bàn tay hắn! Xảy ra là chính đêm ấy, Thần sứ Yavê từ trời xuống sát phạt trong doanh trại As-sua, làm 185.000 lính của hắn chết ngay tại chỗ. Tên sứ giả nói lộng ngôn trên kia cũng chết trong đám đó. Còn vua As-sua, thì dỡ trại rút lui hấp tấp về Ni-ni-vê. Và xảy ra là lúc ông đang cúng bái trong đền thờ thần Nít-rốc, thì hai con trai của ông dấy loạn, lẻn vào, rút gươm đâm ông gục chết, rồi bỏ trốn sang xứ khác. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Trong Tin Mừng Mt (5.22), Đức Giêsu nói: “…Ai mắng anh em là ‘đồ ngốc’ thì can án trước Công nghị, và ai nhiếc anh em là ‘đồ khùng’ thì can án hoả ngục lửa thiêu”. Như vậy, một lời nhục mạ phạm đến con người, còn phải phạt nặng như thế, huống chi lời lộng ngôn nhằm lăng nhục chính Thiên Chúa. Quả vậy, ngày xưa, theo luật Môsê, “ai nói xúc phạm đến Yavê đều phải chết, toàn thể cộng đồng sẽ ném đá nó “ (Lv 24.16; 1V 21.13). Lương dân, người vô tín ngưỡng, cách riêng các kẻ chống đối Thiên Chúa thường hay nói lộng ngôn, lăng nhục Thiên Chúa, như vua Sê-na-kê-ríp trên đây, hoặc như nhiều kẻ khác mà Kinh Thánh có thuật truyện lai, chẳng hạn: vua An-ti-ô-kô Ê-pi-pha-nô (2M 8.4; 9.28; 10.34; Đn 7.8,25; 11.36). Sách Khải huyền nói đến các vua chúa ngoại đạo và bách hại đạo cũng thường nói lộng ngôn xúc phạm Thiên Chúa (Kh 13.5-6;…). Thiên Chúa xử thế nào? Trước xúc phạm đến uy linh Người như thế, Người đích thân ra hình phạt cân xứng cho những hạng người đó. Như vua As-sua trong truyện trên đây chết gục dưới lưỡi gươm của 2 con ông, sau khi bị Chúa cho mắc ôn dịch một đêm chết 185 ngàn quân, phải rút lui nhục nhã. Còn An-ti-ô-kô Ê-pi-pha-nô, Kinh Thánh kể rằng: “Khi ông vừa thốt ra lời lộng ngôn xong, ruột ông quặn đau, nội tạng nhức nhối ghê sợ…, từ trên xe, ông ngã văng xuống đất quá mạnh làm mình mẩy ông nát bấy. Bởi tính huênh hoang, ông tưởng mình ra lịnh được cho ba đào biển cả và có thề rờ được tinh sao trên trời, thì nay đã nằm sóng sượt dưới đất và phải nhờ người ta chở cáng đem đi, đến nỗi từ mình ông dòi bọ ra nhung nhúc, đang sống mà thịt ông đã rữa và thối tha, hôi hám, làm cho cả đạo binh phải khó chịu… Như vậy đã chứng thực tỏ tường cho mọi người thấy quyền phép Thiên Chúa (2M 9.4-10). Nghe các truyện trên, có người mỉm cười nghĩ rằng: ngày nay, biết bao kẻ nói lộng ngôn mà có thấy Thiên Chúa phạt đâu? Chúng vẫn sống phây phây, càng nên béo tốt, làm ăn khấm khá, giàu có thêm mãi… Xin đáp rằng: Họ chưa bị phạt thì không phải họ sẽ không bao giờ bị phạt. Hình phạt là điều chắc chắn, nếu họ không hối cải và xin Thiên Chúa tha thứ. Không hình phạt đời này thì hình phạt đời sau. Thiên Chúa tuy nhân từ, chờ đợi họ ăn năn hối lỗi, song cũng là Đấng Uy linh và công bình vô cùng, không thể coi tội đó dường như thể vô can được. Tội gì còn dễ dung thứ, chứ tội lộng ngôn phạm thượng là tội rất lớn, khó được tha thứ, không bởi lòng Chúa hẹp lượng, những bởi lòng chai đá và tự ái kiêu căng của họ không mềm ra được mà thống hối xin tha. Thậm chí, Đức Giêsu còn nói tội “lộng ngôn phạm đến Chúa Thánh Thần” thì không được tha thứ cả đời này lẫn đời sau, nghĩa là không bao giờ được tha thứ, tại sao vậy? Lý do cũng như trên đã nói. Các tội khác người ta phạm, thường vì yếu đuối, do bị cám dỗ, thèm muốn quá mà sa ngã. Cho nên Thiên Chúa cũng dễ xót thương, tha thứ. Còn tội lộng ngôn là do kiêu căng mà đâm ghét Thiên Chúa, căm thù trực tiếp đối với chính mình Thiên Chúa, có thể nói: nếu họ giết được Thiên Chúa thì họ cũng giết, mà vì không giết được thì họ mạ lị, lăng nhục cho hả giận. Như vậy, tội lộng ngôn tố cáo kẻ ấy vô đạo đến tột độ! Vậy gia đình chúng ta hôm nay: 1. Thứ nhất dâng giờ đền tạ này để đền bồi thay cho những kẻ đã lộng ngôn xúc phạm đến Thiên Chúa. 2. Sau là, không chỉ đền tạ suông, mà ta phải dốc lòng tránh làm cớ cho kẻ ngoại đạo, kẻ vô tín ngưỡng, kẻ vô đạo phỉ báng danh Thiên Chúa (Rm 2.24; 1Tm 6.1; Tt 2,5): tức là sửa đổi cách ăn nết ở của ta đầy tham ô, dục vọng, nào tham lam hà tiện, ăn gian nói dối, trộm cắp, cãi cọ đánh lộn, chửi tục, vợ nọ con kia, trai gái, rượu chè, nhậu nhẹt say sưa tốt ngày, cờ bạc, mê tín dị đoan, vv… Thấy chúng ta là những người tin thờ Chúa mà cứ làm những điều như thế, họ sẽ lăng nhục Chúa mà nói: “Cái ông Chúa tụi bay thờ có hơn gì bụt, thần, tà ma ngoại đạo…, vì các ngươi làm mọi sự xấu xa như bao người khác… Các ông cha của tụi bay giảng dạy cái gì mà tụi bay làm như thế?” 3. Rồi cuối cùng, ta phải tránh không bao giờ được nói lời xúc phạm, lộng ngôn đến Chúa, đến các người thay mặt Chúa, đến các thánh, nói chung đến các sự thuộc về Chúa. Có một tội, không hắn là lộng ngôn nhưng nhiều tín hữu, ngay cả người được tiếng là đạo đức cũng hay mắc phải, đó là tội phàn nàn, oán trách Chúa. Có người nói: “Tại sao Chúa để tôi phải khổ thế này?”. Người khác, khi con bị tai nạn hay tử trận, vì quá thương con nên trách Chúa: “Tại sao Chúa bắt con tôi phải chết?”. Có người bị bệnh lâu ngày cũng trách: “Tôi có tội gì đâu mà Chúa bắt tôi phải đau ốm, cực khổ lâu dài?”. Còn nhiều lời oán trách khác giống vậy… Một cách nào đó, những lời ấy là lời lộng ngôn phạm thượng. Những lời ấy diễn tả cái lòng ta bực tức Chúa, song chưa dám lăng nhục, mạ lị Chúa đó thôi. Các tội khác như vợ nọ con kia, rối rắm,… thậm chí giết người, tuy cũng là tội trọng, nhưng xét cho cùng, vẫn còn nhẹ hơn, và dễ được Chúa tha thứ hơn; vì các tội này ta phạm do yếu đuối, do xác thịt đam mê, chứ không bởi tức giận Chúa. Lấy một ví dụ cho dễ hiểu: một đứa con vì ham chơi lén trốn nhà, trốn việc, lỗi lệnh cha mẹ, so với một đứa khác vì tức giận cha mẹ mà trách mắng, nhiếc nhóc: “Ba là người ác! Má là người đàn bà độc!” thì đứa nào làm cha mẹ đau lòng hơn? Tội phàn nàn, oán trách Chúa của ta cũng vậy. Tích truyện Cây thông đâu cần học giáo lý Câu chuyện này xảy ra ở xứ Ét-scơ (Escles), nước Pháp, khoảng cuối thế kỷ 19. Một hôm cha sở gặp bà nọ và bảo: – Bà nhớ cho mấy cháu nhỏ đi học giáo lý, để chuẩn bị rước lễ vỡ lòng nghe! – Cho hay không cũng chằng quan hệ gì! – Bà vừa nói vừa chỉ tay về phía rừng thông – Cha xem! Cây thông đâu cần học giáo lý, mà chúng vẫn tươi tốt và phát triển như thường đó! – Ờ… Vậy con heo trong chuồng cũng thế phải không bà? Sau đó một thời gian lâu, vào năm 1910, cả xứ Ét-scơ, miền Vơsges, xôn xao trước hung tin cậu con trai của người đàn bà nói trên đã bóp cổ giết chết mẹ, vì bà ta không đưa tiền cho nó đi nhậu nhẹt, ăn xài… Mạng lưới pháp luật đã tóm cổ nó và tuyên án tử cho nó sau mấy ngày.

BÀI LỜI CHÚA 8 ĐIỀU RĂN THỨ TƯ THẢO KÍNH CHA MẸ

Với bài này, chúng ta suy nghĩ về điều răn thứ 4: Thảo kính cha mẹ, chúng ta sẽ tìm hiểu bổn phận giữa hai bên: con cái đối với cha mẹ, và cha mẹ đối với con cái. Bài Kinh Thánh hôm nay…Trích sách Bà Rút Ngày xưa, trong dân Chúa, có một người đàn bà tên Nô-ê-mi, quê thành Bê-lem, bị nạn đói kém khiến bà phải bỏ quê cha đất tổ, sang miền ngoại giáo, là Mô-áp, kiếm kế sinh nhai. Cùng đi với bà có chồng bà và hai con trai. Ở đó lối mười năm, hai cậu trai lấy vợ, một nàng tên Or-pa, nàng kia tên Rút. Chẳng bao lâu, chồng bà và hai con trai đều chết tại đất lạ xứ người. Thân goá bụa, không chỗ tựa nương, bà nhất định trở về quê quán, vì nghe nói ở đó Thiên Chúa thương đã cho chấm dứt đói kém. Hai nàng dâu cũng theo mẹ chồng. Đi được ít lâu, bà Nô-ê-mi nói với hai nàng: – Thôi, các con hãy lui về nhà cha mẹ. Xin Thiên Chúa Yavê chúc phúc, cho hai con mỗi người một tấm chồng làm nơi nương tựa. Cảm động vì lời nhân nghĩa của mẹ chồng, thương hại bà thân già goá bụa, hài nàng sụt sùi khóc lóc, không chịu lui về. Mãi sau, nàng Or-pa đành từ giã bà. Còn nàng Rút khăng khăng một mực không chịu. Nàng nói: – Mẹ đừng bắt con lìa mẹ… Không bao giờ! Mẹ đi đâu, con sẽ đi đó. Dân của mẹ sẽ là dân của con. Thiên Chúa của mẹ sẽ là Thiên Chúa của con. Mẹ sống ở đâu, con sẽ sống ở đó, mẹ chết ở đâu con cũng sẽ chết ở đó và nguyện được chôn ở đó. Cái chết cũng không làm con lìa mẹ được! Hai mẹ con cảm động ôm nhau khóc! Về đến Bê-lem, ai cũng thương xót số phận hẩm hiu của bà: ra đi đầy đủ cả vợ chồng và hai con, nay về thì ủ rũ trống không, chồng chết, hai con trai cũng chẳng còn, chỉ có một nàng dâu. May thay! Nàng dâu ấy thật hiếu thảo, là một an ủi lớn cho bà trong cảnh nghèo khổ. Để giúp mẹ, cô Rút ngày ngày ra đồng mót lúa. thiên Chúa run dủi sao cho cô đến thửa ruộng của ông Bô-át, một điền chủ giàu có và tốt bụng, không những ông cho mót lúa, ông còn cho ăn uống với các tớ gái của ông. Nhớ đến mẹ ở nhà, ăn no nê rồi, cô còn để dành một phần đem về cho mẹ. Với thợ gặt, ông Bô-át bảo: – Cho dù cô ấy có mót lúa giữa những đụn lúa đi nữa, các anh cũng đừng la rầy. Các anh hãy đề sót lại ít lượm lúa cho cô ấy mót! Trước lòng nhân hậu ấy, cô Rút ngạc nhiên hỏi: – Bởi đâu con được ông nhân từ thương đoái đến con đây là một người tha phương? Bô-át đáp: – Ấy, người ta đã tường thuật cho ta mọi điều cư xử tốt đẹp của con đối với mẹ chồng, sau khi chồng con chết, đến nỗi con đã đành bỏ quê hương, xứ sở mà theo giúp bà nơi xứ lạ quê người. Xin Thiên Chúa trả công cho con, Đấng con đã nhận làm Chúa mà thờ, và đã đến nương náu dưới cánh tay hộ phù của Người. Hôm ấy, nàng mót lúa đến chiều tà, đoạn đập lúa đã mót được đến chừng một giạ. Vui mừng hớn hở, nàng đem về cho mẹ, lại lấy của ăn đã để dành ra cho mẹ ăn. Cứ thế, cô Rút mót lúa suốt cả mùa lúa mạch lẫn mùa lúa mì. Ngày kia, bà Nô-ê-mi mới hé lộ cho con dâu biết: – Con à! ông Bô-át là bà con gần của chồng con. Nay chồng con đã chết, chiếu theo luật Môsê, ông có nghĩa vụ thừa thụ cơ nghiệp của chồng con, và vì thế, phải lấy con làm vợ đề dòng dõi chồng con khỏi mai một. Rồi bà dạy cho Rút phải làm những gì đề ông Bô-át nhận nghĩa vụ thừa thụ ấy. Cô Rút vâng nghe làm theo đúng lời mẹ. Lại một lần nữa, ông Bô-át khen nàng: – Xin Thiên Chúa chúc phúc cho con. Việc con bỏ quê cha đất tổ để theo mẹ chồng về đây, đã là một việc hiếu nghĩa. Nay con làm việc thứ hai, còn lớn hơn, là xin ta làm chồng thừa thụ cho con, để chồng của con đã chết có kế nối dõi tông đường. Con đã không màng lũ trai tráng giàu có trong làng. Thật con là người đức hạnh, cả dân thành Bê-lem đểu biết như thế! Thôi con đừng sợ, mọi điều con nói, ta sẽ làm cho con. Ông Bô-át đã giữ lời hứa, mọi thủ tục xong xuôi, ông đã cưới cô về làm vợ, và cô sinh được một con trai tên là Ô-béđ, sẽ là cha của vua thánh Đavít. Sau này, Chúa Giêsu sẽ sinh ra trong dòng họ này, vì thế, người ta xưng Ngài là Con vua Đavít. Như thế, cô Rút đã được Thiên Chúa chúc lành và thưởng công cho làm Tổ Mẫu của Chúa Giêsu. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ca dao có câu: “Mẹ chồng ở với nàng dâu, Chủ nhà với tớ có khen nhau bao giờ”. Không khen nhau còn đỡ, mẹ chồng luôn tố khổ. đối xử cay nghiệt với nàng dâu, đến nỗi nhiều khi nàng dâu phải xách khăn gói về nhà cha mẹ, hoặc coi mẹ chồng như lý hình, làm đời mình biến thành hoả ngục. Biết bao mẹ chồng có đạo hẳn hoi mà cũng ác nghiệt, lỗi luật bác ái, yêu người nặng nề như thế, mà vẫn cứ đi lễ, rước lễ hàng ngày được. Ôi! Lạ lùng thay! Hôm nay, Kinh Thánh đã cho ta đọc một câu chuyện có thật: gương bà mẹ chồng phúc hậu, và con dâu hiếu nghĩa. Mẹ chồng như bà Nô-ê-mi thật là hiếm có. Như khi bà khuyên con dâu trở về nhà cha mẹ, để lấy chồng khác làm nơi nương tựa, đó là bà muốn cho con dâu được hạnh phúc. Đi theo bà, một thân goá bụa, làm sao sinh sống? Bà lại lớn tuổi, chân tay đã ra yếu ớt, mỏi mệt…, đáng lý bà cần có con dâu để săn sóc, đỡ đần. Nhưng thôi, bà đành hi sinh, để con dâu về lại nhà cha mẹ. Mặt khác, theo quan niệm của người Do thái thời đó con gái đi lấy chồng mà không có con là một sỉ nhục lớn. Cho nên, bà khuyên con dâu về nhà cha mẹ, đi lấy chồng khác để được nỗi vui mừng có con. Cư xử như thế, bà đã biết quên mình, mà chỉ nghĩ đến hạnh phúc con cái. Đó là một sự từ bỏ mình to tát, mà sau này, Chúa Giêsu cũng đòi những ai làm môn đồ của Ngài: “Hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo chân Chúa”. Sống trong đạo cũ, bà Nô-ê-mi đã thực hành được điều trong đạo mới. Phần cô Rút, cũng là dâu hiếm có. Lòng hiếu thảo của nàng không thua gì lòng phúc hậu của mẹ chồng. Nàng yêu kính và phụng dưỡng mẹ chồng đến độ bỏ cả quê cha đất tổ, cam sống cực khổ với mẹ chồng, đi mót lúa nuôi mẹ, được chút gì lại cất đành phần cho mẹ. Thương mẹ đến bỏ đạo mình để theo đạo mẹ: “Thiên Chúa mẹ thờ sẽ là Thiên Chúa của con!”. Và một mực, cô nguyện sống chết chẳng rời mẹ. Sau khi nêu tấm gương sáng của hai mẹ con cô Rút, bài Kinh Thánh còn cho thấy Thiên Chúa luôn chúc lành và cứu giúp những cơn cái hiếu thảo. “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”, người đời còn tin tưởng Thiên Chúa không nỡ phụ kẻ có lòng tốt, huống hồ chúng ta, kẻ tin thờ Thiên Chúa là Cha của mình. Do đó, bài Kinh Thánh cho thấy: Tất cả những gì cô Rút hi sinh để theo mẹ và phụng dưỡng mẹ, Thiên Chúa cho cô lại hết và đền bù gấp trăm, ngay từ đời này. Như khi cô không ham sung sướng nơi nhà cha mẹ đẻ, bằng lòng theo mẹ chồng về nơi xứ lạ quê người, cực khổ mót lúa, nên Chúa run dủi cho cô gặp ông điền chủ tốt bụng, cho cô ăn uống, và để sót lúa cho cô mót được nhiều. Vì cô hi sinh không về nhà cha mẹ lấy chồng khác, để có niềm vui sinh con, Chúa giúp cô gặp ông điền chủ giàu có cưới cô làm vợ, không những cho cô sinh con cái, mà còn Tổ Mẫu của một người không chỉ là thần đồng, vĩ nhân lừng danh, mà là Chúa Giêsu, Con Chúa trời đất, Ngài sẽ sinh ra trong dòng họ này: thật là vinh dự cao quí độc nhất cho cô Rút. Cô đã từ bỏ các thần ngoại giáo cô từng thờ từ thuở nhỏ nơi nhà cha mẹ; vì thế, Thiên Chúa đã cho cô nương bóng Thiên Chúa Hằng Sống và chân thật, để được sống đời đời. Gia đình chúng ta làm giờ đền tạ hôm nay, xin Chúa thương đừng để cảnh mẹ chồng nàng dâu tàn ác, cay nghiệt xảy ra trong gia đình ta. Xin Chúa, Đấng đã chúc phúc cho hai mẹ con bà Nô-ê-mi và Rút, cũng giúp ta ăn ở trên thuận dưới hoà như vậy. Tích truyện Người con có hiếu Mẫn Tử Khiên, hồi nhỏ, mẹ mất sớm, cha lấy vợ kế sanh được hai con. Bà kế mẫu quí con riêng mình, đầy đoạ con chồng, cho ăn toàn cơm thừa, canh cặn; bắt làm quần quật suốt ngày, còn la mắng đánh đập. Một lần kia, nhân tiết đông lạnh lẽo cắt da, bà chỉ cho con chồng một manh áo mỏng, còn sai đẩy xe cho cha và hai em. Lạnh quá, Khiên sút tay, xe đổ… Khiên lo lắng, tái mét, sợ về nhà sẽ bị mẹ ghẻ đánh đập. Nhìn thấy con run lập cập dưới trời giá buốt, mắt lơ láo vì sợ…, người cha chợt tỉnh ngộ. Ông tỏ ý muốn bỏ vợ kế, để khỏi làm khổ cho con mình, nhưng Khiên đã đứng ra can cha rằng: “Mẹ còn (thì) chỉ một thân con, Mẹ đi (thì) luống để cơ hàn cả ba”. Kết quả là: “Cha trông xuống cũng sa lệ tủi, (Người) mẹ (kế) nghe rồi cũng đổi lòng xưa”.

BÀI LỜI CHÚA 9 LÒNG HIẾU THẢO

Trích sách 2 Sa-mu-en, 14-25tt Ab-sa-lôm, con vua Đa-vít, là một hoàng tử đẹp trai, trong dân Israen thật không ai sánh bằng: từ đỉnh đầu cho đến bàn chân, không chỗ nào chê được, nhất là bộ tóc, vừa dài, vừa rậm, vừa đẹp. Tục truyền mỗi năm một lần, khi chàng cắt tóc, cân lên tính được gần 3 kí. Nhưng tâm hồn Ab-sa-lôm thì không đẹp như thể xác chàng. Tính tình ngang ngạnh, không ngần ngại làm bất cứ việc gì, bất kỳ phải trái, để đạt ý mình. Một năm kia, chàng tụ họp đồng đảng, dụ dỗ dân chúng ủng hộ mình. Rồi khi thấy đã mạnh thế, chàng làm lễ xưng vương, phất cờ phản nguỵ với vua cha Đa-vít. Nghe tin dữ, Đa-vít biết không thể chống cự được, liền cùng tuỳ tùng và bầu đoàn thê tử chạy trốn khỏi kinh đô. Họ vượt qua thung lũng Kê-đrôn để tạt qua phía đông, theo con đường giáp với sa mạc. Đa-vít leo dốc lên núi Cây Dầu, vừa đi vừa sụt sùi rơi lệ buồn tủi, đầu ông trùm khăn, chân không đi dép, biểu hiệu dấu đau sầu, tang tóc. Hoạ vô đơn chí: số là có tên Shi-mơi, thuộc thị tộc của vua Sa-un trước kia, mà chúng ta đã xem ở bài 2, bị Thiên Chúa truất phế khỏi ngai vàng, vì đã bất tuân Thánh ý Người. Tên Shi-mơi này vừa men theo sườn núi, đi song song với vua Đa-vít, vừa tung bụi, ném đá vừa chửi rủa, thoá mạ: – Xéo đi! Xéo đi! Con người khát máu, đứa vô loài! Yavê đã đổ xuống lại trên đầu ngươi tất cả máu nhà Sa-un bị ngươi đoạt ngôi vua. Và bây giờ, Yavê trao vương quyền vào tay Ab-sa-lôm, con ngươi! Một tướng sĩ của Đa-vít tuốt gươm xin chém: – Tại sao thằng chó chết ấy dám thoá mạ Đức Vua? Xin để tôi băng qua lấy đầu nó! Nhưng Đa-vít can lại: – Cứ để nguyên! Nếu Thiên Chúa sai nó nguyền rủa trẫm, thì ai nào được phép cản lại. Này, đứa con xuất từ lòng dạ trẫm, mà còn tìm hại mạng trẫm, huống hồ là một người thuộc hạ của vua Sa-un. Hãy để nó nguyền rủa trẫm, vì Yavê đã bảo nó làm thế. Biết đâu vì đó, Yavê sẽ đoái nhìn đến nỗi khốn khó của trẫm, mà trả lại phúc lành cho trẫm! Thế rồi Đa-vít và bộ hạ cứ thẳng đường mà đi… Ab-sa-lôm vào kinh đô, chiếm hoàng cung. Hắn còn cả dám nghe lời xúc xiểm của bầy tôi, chiếm đoạt các cung phi của Đa-vít: đó là một sỉ nhục, bêu riếu vua cha bằng cách chiếm lấy các thê thiếp của cha. Tột đỉnh của phản tặc và bất hiếu! Phần vua Đa-vít, sau khi đã băng qua sông Yor-đan, ông tập họp quân đội và dàn trận phản công. Trước khi ra quân, ông nhắn nhủ các binh tướng: – Vì Trẫm, hãy nới tay một chút với thằng Ab-sa-lôm! Trận chiến kinh hồn đã xảy ra trong rừng thuộc đất Ê-phra-im. Quân của Ab-sa-lôm là quân ô hợp, còn quân của Đa-vít toàn tay thiện chiến, lại nóng lòng báo thù cho vua, nên quân Ab-sa-lôm đại bại và hoàn toàn tan rã: hai mươi ngàn quân phơi xác nơi chiến địa, còn nửa kia chạy lạc vào rừng núi chết đói, chết khát, ma thiêng nước độc…. Chính Ab-sa-lôm bị bộ hạ Đa-vít rượt đuổi, cưỡi một con la chạy thục mạng xuyên rừng rậm. Chẳng may, đến một gốc cây sến có cành chi chít, thì bộ tóc đài, đẹp của hắn mắc vào các cành cây, làm hắn bị treo lơ lửng giữa trời và đất, trong khi con la ở dưới cứ thẳng đường chạy mất. Một tên lính của Đa-vít đang rượt theo, thấy thế báo cho Đại tướng Yô-ab. Yô-ab nói: – Tại sao ngươi không hạ thủ nó ngay tại chỗ, ắt ta đã thưởng cho ngươi mười lạng bạc và một áo giáp. Tên lính đáp: – Dẫu Đại tướng cân ngay cho tôi vào tay một ngàn lạng bạc, tôi cũng không dám tra tay trên hoàng tử, vì ai cũng đã nghe thấy vua ra lịnh nới tay với Ab-sa-lôm. Tôi không dám liều mạng làm điều ấy! Yô-ab không nói thêm nửa lời, ông cầm ba ngọn giáo, đi đến chỗ Ab-sa-lôm, phóng mạnh vào ngực hắn. Thấy chưa chết, ông sai lính giết cho chết hẳn. Sau đó, ông thổi kèn ra hiệu thu quân. Đa-vít ngự giá tại cổng thành, chờ tin cuộc chiến. Quân sĩ hớn hở chạy đến báo tin thắng trận. Nhưng vua hỏi ngay: – Thằng Ab-sa-lôm có được an lành không? Các tên lính đáp quanh co. Đa-vít hiểu ngay là Ab-sa-lôm đã bị giết. Vua liền rùng mình, ông lên gác, và ở đó, ông oà lên khóc luôn miệng gọi tên con: – Ab-sa-lôm con ơi! Con ơi! Phải chi cha chết thay cho con… Nhưng đứa bất hiếu và phản phúc đâu còn nữa, thây hắn bị vất vào một cái hố và người ta ném đá lấp lên trên. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ai ai trong chúng ta cũng đều nghĩ: đứa bất hiếu, thằng tặc tử, phản phúc, thì chết như thế là đáng kiếp. Thiên Chúa không thể dung tha kẻ bất hiếu, vì chính Người đã ra điều răn: “Phải thảo kính cha mẹ”, và trong sách Xuất hành, Thiên Chúa còn ban luật rõ: “Kẻ nào đánh đập hoặc nguyền rủa cha mẹ mình, kẻ ấy tất phải chết” (Xh 21.15,17), “Máu nó sẽ đổ tuôn trên mình nó” (Lv 20.9). Như vậy, luật Chúa xưa truyền phải xử tử hoặc ném đá cho chết đứa con bất hiếu nặng nề. Thiên Chúa còn dạy về lòng hiếu thảo ở nhiều nơi khác, chẳng hạn như sách Huấn ca (3.3-l6), mà ngày lễ Thánh Gia Thất, Hội Thánh cho đọc trong Thánh Lễ. Những lời dạy về đạo hiếu thật đã nhiều, nghe mãi thành nhàm tai. Nhưng phúc cho con cái nào biết đem thi hành, không những nó được tiếng khen ở đời là con có hiếu, song còn được hưởng nhiều phúc lành Chúa ban như sau: “Kẻ tôn kính cha, được xá lỗi lầm, Và trọng kính mẹ khác gì tích trữ bảo tàng”. Mắc tội mà được Chúa ban ơn tha thứ, để khỏi bị sa hoả ngục, là điều ai chẳng mong được. Không những Chúa hứa ban ơn tha thứ, mà còn hứa ban hoan lạc cho, như sau: “Kẻ bỏ bê cha, giống như đứa lộng ngôn, Kẻ khinh dể mẹ, chọc giận Chúa Tạo thành. Kẻ tôn kính cha, sẽ được hoan lạc nơi con cái, Vào ngày khẩn nguyện, sẽ được nhậm lời”. Được hoan lạc nơi con cái nghĩa là gì? Không chỉ là thấy “con đàn cháu đống”, xinh tươi, mạnh khoẻ, làm cha mẹ sướng vui, nhưng còn là thấy con cái tôn trọng, hiếu đễ, trên kính dưới nhường, làm cha mẹ thoả lòng. Con cái sẽ là niềm vui, chứ không phải là mối đau lòng, tủi hổ cho cha mẹ. Cho nên, Chúa hứa: người con nào biết tôn kính cha mẹ, đến lượt nó làm cha mẹ, sẽ được con cái nó tôn trọng, yêu mến nó; như thế nó sẽ hưởng được niềm vui nơi con cái. Vì ở đời thấy có những kẻ bất hiếu với cha mẹ, đến lượt nó sẽ bị con cái đối xử y hệt. Người ta kể chuyện rằng: cặp vợ chồng nọ có một người cha già, khi ăn cơm chân tay run rẩy, thỉnh thoảng lỡ tay làm vỡ chén. Tức mình và tiếc của, họ mới đẽo cho ông già một cái bát gỗ xù xì. Ông già vừa cầm bát gỗ ăn cơm, vừa chan hứa nước mất. Một ngày kia, đi công việc về, cặp vợ chồng này thấy đứa con họ đang hì hục đẽo một miếng gỗ. Hỏi nó, nó đáp: – Con bắt chước ba má, đẽo sẵn chén gỗ, để dành sau này ba má già, cho ba má cầm nó ăn cơm! Phần con cái phải thảo hiếu, còn phần cha mẹ thì sao? Đọc truyện Kinh Thánh trên kia, ta phân vân không biết phải kết án sự bất hiếu của Ab-sa-lôm hơn, hay là phải ca tụng tình cha của vua Đa-vít hơn? Quả thật, Đa-vít là một người cha thương con hết chỗ nói: biết nhịn lỗi lầm của con và tha thứ cho con. Không hề gặp nơi miệng ông một lời nguyền rủa hay thoá mạ nào. Đường đường là vua cha, mà phải bỏ ngai vàng chạy trốn và chịu bao gian lao, khổ sở vì con phản loạn. Chưa hết, nó còn chiếm vợ của cha, để bêu riếu cha… Thế mà đến lúc dẹp loạn, Đa-vít căn dặn tướng sĩ tha mạng cho con. Rồi khi biết tin nó bị giết, ông đã khóc con thảm thiết. Tình thương của ông đối với con làm ông muốn chết thay con. Ông khóc lóc, đau đớn đến nỗi, theo lời Kinh Thánh kể: “Ngày ấy, cuộc thắng trận đã biến thành đám tang…, quân sĩ thắng trận lén lút đi vào kinh đô như tàn binh xấu hổ vì bại trận…” Xem như thế, phần cha mẹ cũng hãy hết anh yêu thương con như Đa-vít. Cha mẹ nào chẳng thương con, đành rằng thế, song nhiễu khi lòng thương ấy đã bị xoá mờ trước mắt con cái, vì chúng chỉ còn thấy những câu la mắng, chửi rủa, thay vì lời nói êm nhẹ, yêu thương; chỉ thấy đánh đập theo cơn nóng giận, thay vì cử chỉ đầy âu yếm… Ước chi cha mẹ bớt dùng quyền mà đè bẹp con, bớt la mắng, mà chỉ nói lời âu yếm… Cha mẹ hãy nhớ lại ngày xưa, hồi mình tuổi trẻ, để biết nhẫn nại thông cảm với con cái còn trẻ dại, ham vui… Thay vì nhất cử nhất động là một cái bạt tai, một câu “rủa” nặng lòng, thì cha mẹ hãy dùng lời hoà dịu, êm đềm song thấm thía mà răn dạy con, chỉ đường cho con biết sống ở đời, vì ích lợi cho đời chúng nó. Thánh Phaolô có nói: “Ai trong anh em có lỗi, thì người khác hãy lấy Thần Khí hiền từ mà răn bảo”. Đã đến lúc cầu châm ngôn “thương cho voi cho vọt” được lưu truyền bao đời trong gia đình, ngày nay, với tinh thần đạo Chúa, không còn đúng hẳn nữa, vì Thánh Kinh dạy: “Những người làm cha, đừng làm con cái phẫn uất, nhưng hãy răn dạy theo đường lối Chúa” (Ep 6.4), và câu khác rằng: “Cha mẹ đừng làm con cái phẫn chí, kẻo nó đâm rụt rè, nhát đảm” (Cl 3.21). Từ nay, roi vọt chửi mắng chỉ là biện pháp cuối cùng, vạn bất đắc dĩ, chẳng đặng đừng đối với những đứa con “thân lừa ưa nặng” mà thôi. Cha mẹ hãy răn dạy con cái theo đường lối Chúa, nghĩa là theo tinh thần Chúa; mà tinh thần Chúa thì: “Hãy đến học cùng Ta, vì Ta hiền từ và khiêm nhường trong lòng”. Vậy gia đình ta hôm nay làm giờ đền tạ về các tội con cái ngỗ nghịch, bất hiếu, cũng như xin lỗi Chúa vì cha mẹ hay bề trên đã nhiều lẩn đối xử thiếu tình thương với con cái hay người dưới quyền mình. Tích truyện Một hôm, du khách đến Đất Thánh dừng lại trước một di tích cổ đã đổ nát… Lúc sau, có một người đàn bà Ả rập đi tới bên di tích cổ, cúi nhặt một viên đá rồi ném vào cái cột đó, đứa bé đi theo mẹ cũng làm như vậy. Hỏi bà lý do, bà đáp: – Đây là mồ của một đứa con xấu, đã phản phúc với cha mình. Hỏi tên cha hắn là gì, bà đáp: – Đa-vít. Nói xong, bà tiếp tục đi… Du khách biết đây là mồ chôn Ab-sa-lôm, đứa con phản nghịch. Mồ chôn hắn đã trở thành bia ghi sự nhuốc nha muôn đời. Khi một người Hồi giáo đi qua, họ vừa ném đá vừa nói: – Ab-sa-lôm, hãy bị nguyền rủa! Và chúc dữ cho tất cả đứa con nào nguỵ nghịch, bất hiếu với cha mẹ. Từ đó đến nay, đã 10 thế kỷ, người ta vẫn chưa thôi nguyền rủa hắn. Các bà mẹ Ả rập vẫn còn dạy con cái nhặt đá ném vào mồ đứa con đã giơ tay xúc phạm đến cha mình.

BÀI LỜI CHÚA 10 BÀ MẸ CỦA TÔ-BY-A

Trích sách Tô-by-a, 5.18tt Tuy bị lưu đày sang Ni-ni-vê, một nước ngoại đạo, song gia đình ông Tô-bít vẫn một lòng trung thành với Thiên Chúa và sống đạo đức: Kính mến Chúa, giữ các điều luật Người truyền, lại có lòng thương người và hay giúp đỡ tiền nong, bố thí của cải; cách riêng, ông Tô-bít hay lo lắng ma chay, chôn xác kê chết, thường vì bị vua quan ngoại đạo giết và quăng thây ngoài tường thành cho chó, cho chim ăn thịt. Việc nghĩa này đã gây cho ông nhiều khốn khổ, có lần ông bị vua tầm nã để đem xử tử. Tất cả gia tài, sản nghiệp của ông bị tịch thu hết… Đến khi một vua khác lên ngôi, ông có người cháu làm quan to trong triều bênh đỡ, được trở về gia đình, thì gia đình đã khánh kiệt. Trong tình cảnh quẫn bách ấy, ông còn xui xẻo bị mù loà, nên cuối cùng, ông đành sai đứa con trai độc nhất, cậu Tô-by-a, đi đến miền xa xôi đòi người quen số tiền ông ký gởi ngày trước. Cậu Tô-by-a sắp lên đường. May mắn gặp được một bạn đồng hành: đó là thiên thần Ra-pha-en, Thiên Chúa sai xuống lấy hình người mà giúp đỡ gia đình ông, nhưng cả nhà đâu có biết. Ông Tô-bít vui mừng gửi gắm con cho người bạn đáng tin cẩn ấy dẫn đường. Còn bà An-na, một bà mẹ rất mực thương con, thấy con phải đi xa thì lo lắng, nên bà khóc lóc với chồng: – Việc gì mà ông sai thằng nhỏ nhà ta đi? Nó chẳng là cây gậy chống đỡ tay ta đó sao? Tiền bạc nơi xa, đừng đi đòi nữa, tiền của làm sao so sánh với con ta được. Chúa để ta sống như thế này thì cũng đủ lắm rồi! Ông đáp lời: – Bà đừng có nghĩ vớ vẩn! Con ta sẽ đi an lành, về an lành. Chính bà đã thấy: Chúa gửi đến cho nó một bạn đồng hành tốt lành, đáng tin cậy biết bao! Mình ơi! Đừng khóc nữa, vì Thiên thần của Chúa sẽ hộ phù cho chúng. Đường xuôi gió thuận, nó sẽ trở về an lành. Nghe lời chồng an ủi, bà An-na thôi khóc. Ngày qua tháng lại, ông Tô-bít nhẩm tính, thấy đã quá hạn ước định, mà sao con chưa trở về, ông bắt đầu lo ngại và buồn rầu. Ông có ngờ đâu, tại xứ xa kia, con trai ông gặp may lấy được vợ hiền, lại cùng tông giống, cùng đạo, nên cậu phải nán lại thêm ít ngày. Bà An-na thấy chồng nghĩ ngợi, càng thêm lo buồn, trí tưởng bà bày vẽ trăm chuyện đen tối làm cho lòng mẹ thương con càng thêm rối rắm, xót xa… Nhiều lần bà khóc lóc với chồng: – Ôi con tôi! Nó chết mất rồi! Trong số kẻ sống không còn có nó nữa! Khốn thân mẹ, con ơi! Tại mẹ đã để con ra đi như thế! Chỉ vì chút tiền bạc mà đầy đoạ thân con! Hỡi con ơi! Con là ánh sáng của mắt mẹ, là gậy chống đỡ tuổi già của mẹ! Ông Tô-bít nhẹ nhàng bảo vợ: – Yên nào! Đừng có nghĩ vơ nghĩ vẩn! Nó vẫn an lành, bất quá nó gặp chút trắc trở gì đó thôi. Bạn đồng hành của nó là người đáng tin cậy và cũng là họ hàng, con cháu ta. Thôi! Mình ơi! Đừng quá lo buồn mà hao tổn tâm trí. Nó sắp về đến nơi rồi đó! Nhưng bà cãi lại: – Ông để mặc tôi! Ông đừng lừa tôi! Con tôi nó chết mất rồi! Bà không chịu khuây khoả, không gì có thể làm yên lòng bà mẹ khốn khổ. Ngày ngày, bà ra cửa, đứng đầu ngõ ngó quanh, ngó quất trên đường, mong thấy bóng dáng con. Mặt trời lặn, bà lủi thủi về nhà than khóc suốt đêm không ngủ…* Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa 1/ “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào…”. Nếu công cha lớn lao, ví như núi Thái Sơn, thì tình mẹ lai láng ví như nước trong nguồn chảy ra… Hỡi những ai là con cái, đừng bao giờ quên những khó nhọc, đau đớn muôn vàn mẹ ta đã phải chịu vì ta từ khi trứng nước đến khi bước vào đời… Đừng bao giờ làm mẹ chúng ta đau lòng, vì lời nói, việc làm, nhất là vì tấm lòng bất kính, bất hiếu của ta. Kinh Thánh dạy: “Kẻ rủa cha, rủa mẹ, sẽ thấy đèn mình tắt lụi giữa tối tăm” (Cách ngôn 20.20). “Con mắt khinh dể cha và miệt thị tuổi già của mẹ, bầy quạ nơi thác nước sẽ mổ thủng và phượng hoàng sẽ cấu xé nó” (Sách đã dẫn, 30.17). Còn ngược lại: “Kẻ quí trọng cha sẽ sống dài ngày, Người an ủi mẹ sẽ được công nơi Chúa” (Huấn ca 3.6). Buồn thay! Có biết bao người con từng làm cho mẹ mình khóc lóc sầu tủi… Đó là những kẻ thiếu suy nghĩ, đã quên công ơn mẹ mình, quên không nghĩ tới bao nâng niu, đùm bọc từ hồi mới chập chững… Những canh dài thức giấc vì con, những đêm chong đèn không ngủ lo lắng, hồi hộp nhìn con bệnh hoạn, lòng đau như cắt, nước mắt đầm đìa… Không có những hi sinh ấy, ta còn đâu được sống trên cõi đời này nữa! Kể làm sao cho xiết, nói làm sao cho cùng lòng người mẹ thương con… 2/ Bà An-na trong truyện Kinh Thánh, có lòng thương con hơn tiền của. Bà nói: “Tiền bạc làm sao so sánh được với con ta, mà ông sai nó đi xa như thế? Chúa cho ta sống thế này cũng là đủ rồi!”. Bà quí con hơn cả mọi sự, bà ví “con như ánh sáng của mắt, gậy chống đỡ của tuổi già “. Lời Chúa viết ra đó, là để dạy ta: người con phải biết rằng cha mẹ già cần con nâng đỡ, giúp đỡ mặt vật chất cũng như tinh thần: như ánh sáng của mắt cha mẹ, như gậy chống đỡ tuổi già cha mẹ. Lời Chúa cũng dạy cha mẹ phải yêu quí con hơn của cải. Thật thế, có nhiều người cha mẹ thí con để lấy của, bán con, gả con vì tham tiền: “Mẹ em tham thúng xôi dền, Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng. Em đã bảo mẹ rằng: “Đừng!” Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào. Bây giờ chồng thấp vợ cao, Như đôi đũa lệch so sao cho bằng” (Ca dao). 3/ Ta còn rút được bài học nữa, đó là lời ông Tô-bít: “Bà đừng lo nghĩ vớ vẩn, thêm hại tâm trí… Có Thiên thần chúa hộ phù nó…”. Nhiều bà mẹ, khi lo về con, chỉ biết khóc lóc, buồn sầu, mà không biết đến khóc lóc, kêu van với Chúa, hơn nữa, không biết phú thác cậy trông và Chúa. ở đây, ông Tô-bít đã khéo an ủi vợ bằng cách nhắc vợ tin vào sức hộ phù của Chúa. Trong gia đình, người vợ, người mẹ bao giờ cũng mau xúc động, bi luỵ vì con, nhiều khi đến mất bình tĩnh, mất sáng suốt. Nếu may mắn có được người chồng, người cha bình tĩnh, biết lấy Lời Chúa, lấy sự cậy trông vào Chúa mà an ủi, khuyên lơn vợ, gia đình ấy tốt phúc. Người chồng hay người cha, lúc ấy đóng vai linh mục của gia đình một cách nào đó rồi vậy. Làm cho vợ, cho con nghĩ tới Chúa và trông cậy vào Người, quả là ông đã là cái cầu bắc cho gia đình lên tới Chúa. Về phần các bà, cũng đừng để lòng quá xúc động, nghĩ vơ nghĩ vẩn, tô đen mọi sự… Bà An-na cũng vậy, bà cãi lại chồng: “Ông để mặc tôi, ông đánh lừa tôi, con tôi nó chết mất rồi!”. Rồi bà ra cửa ngày ngày chờ con, tối mịt về nhà khóc không ngủ… Thương con như thế là thiếu sáng suốt, hại sức khoẻ, làm bấn loạn cả gia đình, quả thật bà đã phóng đại, tô đen, chứ con bà đâu có chết, mấy ngày sau, bà thấy Tô-by-a về, bà mừng rối rít. Chẳng phải những lo lắng, âu sầu của bà trước đây đều đã vô ích sao? Đành rằng mẹ thì thương con, mà chuyện tình cảm, yêu thương thì không thể lấy lý ra mà thắng được; song dầu sao cũng nên bình tĩnh hơn, đừng quá tưởng tượng. Các bà muốn lúc ấy bình tĩnh, sáng suốt, chỉ có một phương thế độc nhất giúp được: đó là chạy đến Chúa, phú thác thật tình với hết lòng tin cậy, như lời Kinh Thánh dạy: “Mọi nỗi lo lắng, anh chị em hãy trút cả cho Chúa, vì Người lo đến anh chị em” (1Pr 5.7). Tích truyện Đầu thế kỷ 20 này, tại Luân Đôn, có một gia đình công nhân vừa nghèo, vừa đông con: cả thảy 13 đứa! la chúng phải đi làm suốt ngày ở xí nghiệp, bà mẹ làm nghề phụ gia công và lo việc nội trợ. Dù đầu tất mặt tối suốt ngày, bà Vũ Phan (Vaughan) vẫn vui vẻ thay chồng dạy con học giáo lý, tập cho chúng tinh thần đạo đức, khuyên chúng chịu khó học tập, lao động. Ấy thế mà, trưa nào, rửa chén dĩa xong, bà Vũ Phan cũng đến nhà thờ chầu Chúa một giờ. Láng giềng ai cũng lấy làm lạ và hỏi bà: – Một bầy con 13 đứa, bận rộn sáng tối, mà sao trưa nào chị cũng đi chầu Thánh Thể? Bà tươi cười đáp: – Thấy một bầy con chen chúc, ăn bữa nay chạy gạo bữa mai, tôi lo lắm! Hơn thế, nghĩ chúng đến trường học, có thể theo bạn bè rủ rê đi chơi hoặc ra phố phường xa hoa đô hội nhiều nguy hiểm, tôi càng thao thức hơn. Thành thử mỗi ngày, dầu bận việc đến đâu, tôi cũng bỏ ra một giờ đến với Chúa trong Phép Thánh Thể, để xin Ngài ban ơn cho vợ chồng tôi nuôi nấng các cháu hàng ngày dùng đủ và dạy dỗ chúng nên tín hữu chân thực. Chúa đã nhận lời bà mẹ biết chạy đến phú thác cho Người, và Chúa đã ân thưởng cho lòng tin cùng các hi sinh của bà: trong 13 người con, sau này, một người là Hồng Y Tổng Giám Mục giáo phận Luân Đôn, một người là Tổng Giám Mục, hai người làm linh mục, hai nam tu sĩ, hai nữ tu sĩ, còn 5 người ở thế gian lập gia đình đạo hạnh và đầy đức tin. Gia đình chúng ta làm giờ đền tạ này, để xin Chúa tha thứ cho những đứa con không biết ơn tình mẹ và cho những bà mẹ không biết yêu thương con đúng tinh thần Chúa dạy.

BÀI LỜI CHÚA 11 NGƯỜI CHA GƯƠNG MẪU

Kỳ trước, ta đã nghe đọc Sách Thánh về gia đình đạo đức của ông Tô-bít, cách riêng về bà mẹ rất thương con. Kỳ này, Sách Thánh sẽ cho ta biết về ông Tô-bít, người cha gương mẫu của cậu Tô-by-a.Trích Sách Tô-by-a Từ trẻ, ông Tô-bít đã là một người đạo đức, nghĩa là ông luôn tuân giữ các luật Chúa, cùng làm việc nghĩa. Ông trung thành lên Yêrusalem hàng năm, để dâng tế lễ ở Đền Thờ như Chúa truyền, ông nộp thuế thập phân, đóng góp vào việc phục vụ Đền Thờ và các chi phí phụng tự. Ông rộng tay làm phúc cho kẻ nghèo, người goá bụa, kẻ mồ côi, khách tha phương… Chiến tranh binh lửa đã đến, lôi ông khỏi xứ sở, đi lưu đầy sang Ni-ni-vê, ông vẫn luôn giữ một lòng trung tín thờ Chúa và thương người, đang khi quanh ông, anh em bà con dòng họ hầu như bỏ đạo. “Người đói, tôi cho bánh ăn; kẻ mình trần, tôi cho áo mặc; và nếu tôi thấy có người chết nào bi quăng thây sau tường luỹ Ni-ni-vê, tôi đã chôn cất” (1.17). Một hôm, vào ngày lễ 50, ông được người ta cho một bữa tiệc thịnh soạn để mừng ông. Nghĩ đến người nghèo, ông bảo con ông là Tô-by-a: – Này con, hãy đi ra, và nếu gặp ai nghèo khó trong anh em ta, hãy dẫn về cùng chia sẻ bữa ăn với cha! Đến khi dẫn một người nghèo vào ăn, cậu Tô-by-a cũng đưa tin cho cha cậu: có một người bị sát hại và quăng thây ngoài bùng binh… Nghe vậy, ông Tô-bít liền chỗi dậy, bỏ bữa ăn, đi lấy trộm xác về giấu một nơi, đợi mặt trời lặn sẽ đem chôn. Hàng xóm chê cười ông: – Hắn vẫn chưa sợ! Đã bị tầm nã để xử tử, đến nỗi phải bỏ nhà cửa trốn đi, thế mà nay hắn lại chôn cất kẻ chết (2.8). Làm việc nghĩa như thế, đã không được may, ông lại gặp rủi: sau khi chôn xác, tắm rửa, nằm nghỉ ngoài hiên cho mát, cứt chim rơi trúng mắt làm ông mù. Đã bốn năm như thế, gia đình càng ngày càng khánh kiệt. Dủ nghèo, ông không hề tham lam. Chuyện sau đây chứng tỏ: bà An-na, vợ ông, phải dệt vải gia công cho chủ để có tiền độ nhật. Một lần kia, sau khi lãnh công, bà còn được chủ thưởng một dê con. Nghe tiếng dê kêu be be, Tô-bít hỏi: – Con dê ấy ở đâu đến? Hoạ chăng là của trộm cắp. Hãy đem trả cho chủ nó, vì ta không được phép ăn của gì trộm cắp. Bà An-na đáp: – Quà người ta tặng tôi thêm với tiền công đó mà! Ông không tin, cứ khăng khăng bảo phải đem trả, đến nỗi bà vợ ông phải nổi giận trách mắng ông, ông mới thôi. Buồn tủi, phần vì mù loà, phần vì bi vợ la rầy, ông tấm tức khóc và cầu nguyện với Chúa. Cuối cùng, không còn kế sinh sống, ông đành liều sai con đi sang xứ Mê-đi xa xôi, để đòi số bạc ông ký gửi nhà quen thuộc. Trước khi con lên đường, ông nghĩ mình không biết có còn sống đến lúc con về lại không, nên ông đã gọi con lại để nhắn nhủ những điều mà chính ông đã sống, đã thi hành trước: 1/ Ông nhắc con thờ Chúa: “Suốt mọi ngày đời con, hỡi con. hãy nhớ đến Chúa. Đừng cố ý phạm tội, lỗi các lịnh truyền của Người”. Cung giọng ông thật là tha thiết, êm đềm thấm vào lòng con. “Mọi thời mọi buổi, con hãy chúc tụng Thiên Chúa, con hãy xin Người cho đường con đi ngay thẳng. Chính Chúa ban phát mọi sự lành” (4.5,19). 2/ Ông dạy con có hiếu với mẹ: “Hãy thảo kính mẹ con, đừng bỏ người ngày nào trong suốt đời người; song hãy phụng dưỡng hết lòng. Hãy làm mẹ con được vui lòng vui mặt. Đừng làm cho tâm hồn người phải buồn phiền vì bất cứ sự gì. Con hãy nhớ là mẹ con đã phải trải qua bao nỗi gian lao, nguy hiểm vì con, khi con còn trong lòng mẹ. Người chết, con hãy chôn cất người bên cha cùng một mồ” (4.3). 3/ Ông dạy con bày làm phúc, làm nghĩa như ông vẫn thường làm: “Con đừng bao giờ ngoảnh mặt làm ngơ trước kẻ nghèo, và Nhan Thánh Thiên Chúa cũng sẽ không ngoảnh mặt đi với con. Có bao nhiêu hãy tuỳ sức mà bố thí, có ít lấy theo số ít mà bố thí. Quả đó là kho tàng con cất cho mình vào ngày túng quẫn. Vì chưng, bố thí giựt khỏi sự chết và không để lâm phải tối tăm. Quả thế, bố thí là lễ tế trước Nhan Thiên Chúa” (4.7-11). 4/ Ông còn nhủ bảo con nhiều điều khác: “Hỡi con, hãy giữ mình khỏi mọi điều dâm ô! Hãy lấy vợ cùng trong giống nòi!” (ông có ý bảo: đừng lấy vợ ngoại, vì họ không có đức tin sẽ làm cho con cái và cả dòng giống bỏ Chúa). Đừng kiêu ngạo, vì nơi kiêu ngạo đã sẵn hoạ diệt vong và chuốc thảm bại. Nơi lười biếng đã có suy vi và nhiều thiếu thốn, vì lười biếng là mẹ sinh ra đói kém. Hãy coi chừng về mình trong mọi việc làm của con; và trong cách xử sự, hãy luôn ở như người gia giáo! Điều con ghét, con chớ làm cho người ta. Rượu, con chớ uống say sưa; say sưa chè chén đừng là bạn đường của con. Muốn sống tốt đẹp, con đừng khinh lời khuyên răn nào hữu ích. Với người khôn ngoan, con hãy tim lời bàn bạc. Hãy làm việc nghĩa mọi ngày đời con, đừng đi theo đường lối bất chính. Con hãy xin Thiên Chúa cho đường con đi ngay thẳng, cho mọi dự định con được thành tựu”. 5/ Ông nhấn mạnh đến đức công bình: “Bất cứ ai làm lụng cho con, con đừng trì hoãn đến mai mới trả lương, nhưng hãy trả ngay lập tức, thì việc con làm tôi Thiên Chúa, con cũng sẽ được trả công” (4.14). Kết cục, ông nói: “Hỡi con, hãy ghi nhớ các lời Cha, chớ để tuột khỏi lòng con… Đừng sợ, vì ta ra nghèo! Của lành, con sẽ có nhiều, khi con kính sợ Thiên Chúa và lánh xa mọi điều tội lỗi, cùng làm điều lành trước mặt Thiên Chúa”. * Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Cậu Tô-by-a thật tốt phúc, vì có một người cha gương mẫu, đức hạnh. Đạo của ông là đạo cũ, thuộc Cựu Ước, chưa được trọn lành như đạo mới Chúa Giêsu dạy cho ta bây giờ; thế mà mấy ai trong tín hữu Chúa Giêsu đã sống được bằng ông? Cái đáng phục là ông sống đạo tử tế, cho dù giữa hoạn nạn, khốn khó, bắt bớ…, rồi sau đó, ông mới dạy lại cho con ông một cách chân thành, với lời lẽ êm đềm như rót vào tai. Tình thương con đã làm tiếng nói của ông thêm đậm đà! Mong sao các người làm cha, bớt nổi nóng, la rầy con cái, vì chúng còn trẻ, ham vui, ham chơi. Hãy thông cảm, hãy kiên nhẫn với chúng và ôn tồn dạy vẽ cho chúng về đạo Chúa, về cách sống ở đời. Ông Tô-bít biết rõ châm ngôn này: “Lời nói bay đi, gương bày lôi kéo”. Dạy con không chỉ dạy bằng lời, còn dạy bằng gương đời sống mình. Khi những người cha lòng đạo khô khan, cằn cỗi, thêm vào các tật xấu như nhậu nhẹt say sưa, cờ bạc, rượu chè…, thì làm sao nói chúng nghe. Con cái chỉ thấy nơi ông bố một kẻ có “tâm hồn ăn uống” hơn là có “tâm hồn đạo hạnh”, làm sao chúng phục? Đang khi, theo ý Chúa, người cha phải có “tâm hồn linh mục” đối với con cái, có nhiệm vụ dẫn dắt chúng đến với Chúa mỗi ngày mỗi hơn, như linh mụcđẫn dắt con chiên mình. Gia đình chúng ta làm giờ cầu nguyện tối nay để đền tạ các lỗi lầm, gương xấu trong lời nói, việc làm của các người cha trong gia đình, nhất là gia đình của mình đây. Cũng xin Chúa ban ơn sửa đổi, để người cha nào trong gia đình cũng nên giống ông Tô-bít gương mẫu, tốt lành, được con cái kính phục và yêu mến. Tích truyện Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu mồ côi mẹ lúc chưa đầy 4 tuổi. Các chị lại lần lượt nối bước nhau vào dòng. Vì thế, cô con gái út rất được cha yêu quí, chiều chuộng. Những tưởng mất mẹ, cha chiều, cô bé sẽ đâm hư… Nhưng không ngờ, cô đã làm thánh và làm thánh lớn nữa, vì cha cô là một người cha tuyệt diệu. Theo cô kể lại trong “Truyện một tâm hồn”, thì lúc 14 tuổi rưỡi, Têrêsa ước ao dâng mình cho Chúa. Ủa! Tại sao được cha cưng chiều, mà cô lại bỏ đi tu? Vì cha cô là một người đạo hạnh, chỉ luôn dạy con biết yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Chính cha cô không những không cấm cản, mà còn làm mọi việc vận động để cô có thể vào dòng kín trước tuổi. Lúc phải nói cho cha cái ý định của cô mới thật là gay cấn, cô sợ cái tin sét đánh ấy sẽ làm cha cô đau buồn, giảm thọ; vì đời ông, lúc ấy, chỉ còn có cô là niềm an ủi. Một buổi chiều kia, thấy cha ra vườn ngồi chơi, hai tay khoanh lại ngắm cảnh thiên nhiên xinh đẹp, Têrêsa đánh bạo đến ngồi gần bên cha, nhưng miệng chưa thốt nên lời mà nước mắt đã ràn rụa. Ông Mác-tin cúi xuống nhìn con, với ánh mắt yêu thương trìu mến. Biết con có điều uẩn khúc muốn nói, ông ôm đầu con áp vào ngực mình và hỏi: – Con có điều gì cứ nói cha nghe đi nào, công chúa của cha! Bấy giờ, Têrêsa gạt nước mắt, tỏ cho cha biết việc mình hết sức ước ao vào Dòng Kín. Ông Mác-tin nghe xong cũng bật khóc, nhưng ông trấn tĩnh lại, và nhỏ nhẹ bảo con: – Con còn trẻ, làm sao quyết định việc quan trọng đó được? Têrêsa tiếp tục nài nỉ, cuối cùng, ông đành chấp thuận theo Thánh Ý Chúa. Sau đó, ông phải dẫn Têrêsa sang Rôma, yết kiến Đức Giáo Hoàng Lêô 13, để Têrêsa xin phép chuẩn được vào Dòng Kín lúc mới 15 tuổi. Công lao và hi sinh của cha to lớn chừng nào, suốt đời Têrêsa không hề quên, luôn nhắc đến công ơn cha.

See also  Aaron Rodgers sounds off on Super Bowl boycott prank

BÀI LỜI CHÚA 12 BÀ MẸ CAN ĐẢM

Trích sách 2 Ma-ca-bê, ch. 7 Đây là một tích truyện có nền tảng lịch sử, xảy ra ở Pha-lê-tin, trước chúa Giáng sinh độ 150 năm. Hồi đó, dân Do Thái đang bị vua An-ti-ô-kô cấm đạo. Có một bà mẹ kia cùng bi bắt với 7 người con. Tất cả đều một dạ trung thành đến chết không hề chối Chúa, chối đạo, mặc dầu phải chịu những hình khổ độc ác nhất. Người anh cả bị cắt lưỡi, lột da đầu, chặt các ngón tay, ngón chân. Chỉ còn thoi thóp thở, lại bị lôi đến lò lửa, ném vào vạc để rán chảo. Người anh thứ hai cũng bị các cực hình ấy. Trước khi bị cắt lưỡi, anh lớn tiếng tuyên xưng lòng tin: – Các ngươi giết mạng sống đời này của chúng ta, song chết để làm chứng cho đạo Chúa là chân thật, thì Chúa sẽ cho chúng ta sống lại ngày sau hết, sẽ hoàn trả cho chúng ta sự sống còn mãi đời đời (c.9). Và cứ thế, lần lượt mấy người anh em đó can đảm chịu các hình khổ ghê rợn và chịu chết vì đức tin. Trước khi tắt thở, họ đều tuyên xưng lòng tin, ca vang niềm hi vọng nơi cuộc sống đời đời mà Thiên Chúa dành sẵn cho họ. Còn người mẹ, bà thật là người đáng thán phục mọi đàng, xứng đáng được kính cẩn ghi nhớ, một lòng cậy trông vào Chúa, bà đã can đảm chứng kiến 7 con cùng chết trong một ngày. Hơn nữa, bà đã lấy lời lẽ khuyến khích mỗi con. Là một người phụ nữ, mà lòng bà đầy chí khí anh hùng, nữ tính được khí phách nam nhi làm cho phấn khởi, và bà nói với các con: – Mẹ không biết làm sao chúng con đã xuất hiện trong dạ mẹ, nhưng một điều mẹ biết chắc là không phải mẹ ban cho chúng con hơi thở và sự sống, cũng không phải mẹ đã sắp xếp cho các yếu tố nắn chúng con nên hình nên dạng. Chính Đấng Tạo Thành vũ trụ đã ban cho chúng con hơi thở và sự sống. Vậy thì chính Người sẽ trả lại cho chúng con hơi thở và sự sống, một khi chúng con không ngại hi sinh sự sống mà làm chứng về Người (cc. 20-23). Đến lượt cậu con út của bà, vua An-ti-ô-kô hết lời phủ dụ, dỗ ngọt sẽ ban của cải, phú quí và quyền chức vinh hoa… Thấy không lay chuyển lòng cậu, ông mới nghĩ ra một kế là gọi người mẹ lại, dụ bà khuyên bảo cậu bé để cứu sống nó. Bà nhận lời, nhưng bà đánh lừa bạo chúa, dùng tiếng bản quốc mà khuyến khích con can đảm chịu chết, thay vì nghe lời hứa ngon ngọt của vua: – Con ơi! Con hãy thương mẹ đã cưu mang con chín tháng, cho con bú mớm ba năm, cùng đã đau đớn, lo lắng thiết tha… Mẹ xin con hãy ngước mắt nhìn trời đất và tất cả mọi vật trong đó, để biết rằng: Thiên Chúa đã làm ra chúng cùng cả loài người chúng ta. Vậy đừng sợ tên lý hình ấy. Hãy ở sao cho xứng với các anh con mà bằng lòng chết, ngõ hầu mẹ được gặp lại con làm một vớt các anh con. Bà vừa dứt lời, người thiếu niên đó nói to: – Các ngươi còn đợi gì? Không bao giờ ta nghe lời truyền của một ông vua, mà bỏ lệnh truyền của Chúa, dù sống hay dù chết. Rồi quay sang ông vua cấm đạo, cậu la lớn: – Hỡi bạo chúa khát máu! Quân vô đạo! Ngươi đừng dương dương tự đắc khi nắm quyền hành trong tay mà hành hạ các tôi tớ Chúa, vì ngươi sẽ không trốn thoát được án của Thiên Chúa toàn năng, Đấng thấy hết mọi sự. Anh em ta đã chịu cực hình vắn vỏi để được sống muôn đời. Còn ngươi sẽ mang lấy án công bằng, xứng với sự kiêu ngạo của ngươi. Phần ta cũng xin dâng mạng sống để làm chứng cho Chúa, mà khẩn cầu Người thương đến dân tộc (cc. 27-37). Vua tức uất người và đã ra các hình khổ độc ác gấp bội đối với cậu. Cậu đã can đảm chịu các hình khổ ghê sợ ấy và đã lãnh triều thiên tử vì đạo. Sau cùng đến bà mẹ, thấy không còn có con nào để bà phải nâng đỡ, khích lệ, bà cũng bằng lòng chịu chết vì Chúa. Linh hồn bà bay về cùng Chúa và sum họp với các con trong vinh quang Thiên quốc. Trên mổ các vị tử đạo này, dân Do thái sẽ thấy chỗi dậy những vị anh hùng giải phóng dân tộc họ khỏi ách độc tài và vô đạo: đó là các anh em nhà Macabê anh dũng, mà sử sách còn ghi. * Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Nếu anh chị em là bậc cha mẹ mà gặp cảnh vừa kể, anh chị em có khuyến khích con cái mình như thế không? Có can đảm chịu đựng và chứng kiến con cái mà mình đã mất bao công lao dưỡng dục, nay được phúc chết vì Chúa không? Xem thế, mới thấy bà mẹ trong truyện Sách Thánh kể thật “đáng thán phục mọi đàng, xứng đáng được kính cẩn ghi nhớ” (c.20). Nhưng bởi đâu bà có được thái độ can đảm như thế? Chứ theo thường tình, phụ nữ hay xúc động, giàu lòng thương con, luôn sợ con mình phải khổ, phải chết, thì làm ngơ hoặc tệ hơn, tìm cách bảo con trốn lánh hay chối đạo Chúa, chối bỏ danh nghĩa là công giáo, không dám tuyên xưng đức tin. Thế mới hay cha mẹ có hai cách thương con: thương con theo thường tình xác thịt và thương con trong Chúa, theo tinh thần Chúa. Thương theo thường tình dễ đưa đến chỗ làm nghịch ý Chúa. Chúa Giêsu dạy: “Kẻ yêu con trai, cơn gái hơn ta, ắt không xứng với Ta” (Mt 10.37). Bà mẹ bảy anh em tử đạo sở dĩ can đảm phi thường như thế là bởi hai lý do mà Sách Thánh cho biết: một là “bà có lòng trông cậy vào Chúa”, hai là “bà có khí phách nam nhi, có chí khí anh hùng”. l/ Bà có lòng trông cậy vào Chúa là thế nào? Tức là bà có một niềm tin chắc vào Chúa là Đấng có thật và hằng sống, Người đã tạo dựng nên mọi loài, chính Người nắn tạo và ban sự sống cho các con của bà. Nếu con bà vui lòng chết vì Người, thì đáp lại, Người có đủ quyền phép mà trả lại một sự sống khác tốt hơn, tức là sự sống đời đời. Bà nói giống lời của Chúa chúng ta: “Kẻ nào hi sinh sự sống mình vì Thày, thì sẽ được lại sự sống. Nào có ích gì cho người ta khi được cả thế gian mà đánh mất sự sống đời đời của mình. Lấy gì để chuộc nó lại được? Vì chưng có ngày Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Ngài… và bấy giờ, Ngài sẽ trả lại cho mỗi người (sự sống là phần thưởng đời đời) tuỳ theo công nghiệp họ” (Mt 16.24tt). 2/ Bà mẹ kia có khí phách nam nhi, có chí khí anh hùng là thế nào? Tức là bà biết vượt trên những sự xúc cảm thường tình của phụ nữ, bà bình tĩnh dùng lý trí suy nghĩ, chứ không để anh cảm lôi kéo. Lý trí thì sáng suốt, còn tình cảm thì mù quáng. Nếu được Lời Chúa soi sáng, lý trí sẽ sáng suốt hơn, sẽ biết phải làm gì, hành động theo lối nào cho xứng với danh là con cái Chúa. Vậy sau khi đã suy nghĩ như thế và cầu nguyện cho có sức mà làm theo, thì người đó, cho dù là một phụ nữ, cũng thành ra có khí phách của nam nhi, và khi đạt mức cao, có thể làm những việc khó, thì gọi là có chí khí anh hùng. Được như thế không khó lắm đâu! hay nói đúng hơn, cái đó không phải là điều không làm nổi. Chung quanh ta, biết ba người cha, người mẹ đã sống can đảm như thế, không nhiều thì ít. Có những người vợ, người mẹ, chồng xa vắng, đã chết, hoặc bỏ bổn phận, một tay bà nuôi nấng đàn con, đồng thời đóng thêm vai người cha để dạy dỗ đàn con đang chập chững bước vào đời. Lại ra sức dạy bảo con cái sống theo đạo Chúa, biết chịu khó, chăm chỉ lao động lương thiện để mưu sinh, không ăn cắp, cướp giật để làm kế độ thân, không gian dối, không lừa đảo để có của. Bà dạy con biết sống đứng đắn, trai không chè chén, nhậu nhẹt say sưa, gái không se sua, đua đòi hoặc lẳng lơ, trắc nết. Bà dạy cho chúng biết cậy trông vào Chúa thương yêu quan phòng, để không hề làm gì xằng bậy lỗi luật Người, mất lòng Người. Những người vợ và người mẹ ấy thật quí hoá cho gia đình và xã hội, và Hội Thánh được thơm lây. Xin các bà mẹ nhớ cách riêng rằng: nếu ngược lại, các bà cưng chiều mà không dạy dỗ, bảo ban con cho đúng phép, các bà không những làm hỏng đời nó, mà còn làm hại cho xã hội, làm khổ cho người khác sống xung quanh nó nữa. Đứa con được nuông chiều – nhất là con trai – sẽ trở nên uỷ mị, nhu nhược, suýt đời sống bám vào mẹ, không có can trường, luôn ỷ lại, quăng ra đời nó sẽ không biết xoay xở, không biết tháo vát. Vì từ nhỏ vốn quen ăn sẵn, có lấy vợ, lập gia đình cũng sống dựa hơi vợ, sẽ không biết hi sinh cho vợ con, mà chỉ đòi hỏi, vì đã quen từ nhỏ thụ hưởng ích kỷ rồi, cái gì cũng vơ lấy cho mình, chứ có biết san sẻ, hi sinh cho ai khác đâu! Vậy, hỡi các người cha mẹ công giáo! Hãy để hết tâm tư mà rèn luyện cho các con, trai cũng như gái, thành những con người có chí khí, có bản lãnh. Hãy tiêm nhiễm cho con những xác tín đúng đắn, rèn luyện ý chí biết phấn đấu chống mọi tính hư tật xấu, biết vươn lên cao theo một lý tưởng tốt đẹp, biết trung tín với bổn phận, biết hi sinh vì việc nghĩa. Nhất là hãy dạy con sống tin tưởng và gắn bó với Chúa, cách riêng bằng sự cầu nguyện và suy gẫm Lời Chúa.

BÀI LỜI CHÚA 13 ÔNG BỐ YẾU ĐUỐI

Trích sách 1 Sa-mu-en, 2.12tt Ông Hê-li là Thượng tế, tức là thày cả thượng phẩm trong đạo cũ nhưng ông lại thiếu cương quyết trong việc tề gia: ông không dạy dỗ đến nơi đến chốn hai đứa con ông là Khốp-ni và Pin-kha. Khi chúng lớn lên, được xung vào lo việc tế tự trong Đền Thờ, thay vì làm gương sáng, lại làm gương mù, làm dân bất mãn. Ngày xưa, khi đến Đền Thờ tế lễ, người ta thường dâng súc vật để giết tế lên Thiên Chúa. Lợi dụng chức vụ, Khốp-ni và Pin-kha sai gia nhân đến chọn lấy những phần thịt ngon nhất, tốt nhất mà ăn, đáng lẽ là phải dành để hoả thiêu mà tế lên Thiên Chúa. Thật là tội lớn, Kinh Thánh nói: chúng là hai đứa vô loài, dám khinh thường tế lễ của Chúa. Chúng còn thêm tội ác nữa là dám phạm tội gian dâm với các phụ nữ phục dịch chung quanh Đền Thờ (2.22). Ông Hê-li đã nghe biết mọi điều xấu xa các con ông làm, và ông đã la mắng chúng rằng: – Làm sao các ngươi dám làm những điều như thế? Người mắc tội với người, còn có Thiên Chúa phân xử, nhưng nếu người ta mắc tội với Thiên Chúa, ai sẽ bàu chữa cho? (cc.22-25). Nói thế mà ông không cương quyết dạy con, ông thấy chúng không nghe, càng phạm tội hơn, ông làm lơ và chỉ biết than vãn… vô hiệu quả. Chúa đã nghiêm nghị cáo trách sự nhu nhược ấy: – Ta đã đặt các ngươi làm người tế lễ trước Nhan Ta, thế mà sao ngươi trọng con cái ngươi hơn Ta?… Gở thay những ai khinh Ta, chúng sẽ ra đốn mạt… Này là dấu cho ngươi: trong một ngày, hai đứa con ngươi sẽ chết. Ta sẽ chọn một người tư tế khác trung thành hơn thay ngươi. Và xảy ra là ai còn sống sót trong dòng họ ngươi sẽ phải đi ăn mày, để được miếng bánh mà ăn (cc.27-36). Ông Hê-li vẫn không sửa dạy con như lời Chúa cảnh cáo, nên cuối cùng hình phạt đã đến: Chúa phán với ông qua miệng ngôn sứ Sa-mu-en rằng: – Này Ta sắp làm trong Israen một điều mà mọi kẻ nghe đến sẽ ù cả hai tai: Ta sẽ xét xử trên Hê-li và dòng họ nó, vì con cái nó xúc phạm đến Thiên Chúa, mà nó đã chẳng sửa dạy chúng. Vì thế, tội nhà Hê-li sẽ không bao giờ lấy lễ tế nào mà khoả lấp được. Lời Chúa ứng nghiệm: dân Phi-li-tinh vốn thù nghịch với Israen, đem quân đánh Israen thua tơi bời. Israen liền kéo nhau vào Đền Thờ, kiệu khám Giao ước thánh thiêng (xưa gọi là Hòm Bia), trên đó có Thiên Chúa ngự, ra mặt trận để mong nhờ Thiên Chúa ra tay dẹp giặc. Ai ngờ, vì tội lỗi của nhà ông Hê-li, Thiên Chúa đã bỏ Israen. Thế là họ thua một trận lớn nữa! Một binh sĩ từ mặt trận chạy về báo tin trong thành, cả thành rú lên than khóc. Hê-li mới hỏi tên lính ấy, hắn thưa: – Ba vạn quân Israen bị giết hầu hết! Hai con của ngài cũng tử trận, nhất là Khám thiêng của Thiên Chúa đã bị địch bắt được. Nghe tin như sét đánh, Hê-li từ trên toà bổ nhào ra đằng sau, ót đập vào ngưỡng cửa, vỡ óc chết. Con dâu của Hê-li, mang thai gần ngày sinh, nghe tin khám bị bắt, cha chồng lẫn chồng đểu chết, thì nàng bị truỵ thai, ngồi xổm xuống đất mà sinh con, rồi chết. * Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Bài học Chúa dạy đã quá rõ: sự nhu nhược trong việc dạy con cái của người cha đã là nguyên nhãn gây ra tai hoạ cho mình, cho con cái, cho cả dòng họ và cho nhiều người khác. Ông Hê-li cũng có la mắng hai con ông. Ông nó rất chí lý: “Người mắc tội với người còn có Thiên Chúa phân xử, nhưng nếu người ta mắc tội với Thiên Chúa, ai sẽ bàu chữa cho?”. Cái Chúa trách ông là không dạy con đến nơi đến chốn, cách cương quyết và có hậu quả. Chúa trách thái độ nhu nhược đó: “Nó tôn trọng con cái nó hơn Ta…”. Thiên Chúa là Đấng cao cả uy nghi, không dạy con biết tôn thờ Chúa cách xứng đáng, ăn ở trước mặt Chúa cho phải đạo, thì Chúa cho là trọng con, nể con hơn Chúa, sỉ nhục Chúa. Trước Lời Chúa dạy hôm nay, đáng tiếc là nhiều người cha trốn lánh hay thờ ơ với trách nhiệm giáo dục của mình. Phải vất vả lo lắng nuôi vợ con là điều cần, nhưng trách nhiệm giáo hoá con cái còn quan hệ hơn. Cho con có cơm ăn, áo mặc, mà để chúng thành người vô nhân cách, vô đạo đức, thế là nhiệm vụ ông thất bại rồi. Một trong những lý do người cha cảm thấy khó lòng dạy con cái là thiếu học hỏi cách giáo dục. Cho nên vốn liếng giáo dục của ông chỉ gồm vỏn vẹn vài câu la mắng, quát tháo, hoặc tát tai, gõ đầu… ông có uy quyền của người cha, song nhiều khi ông chỉ dùng uy quyền thôi, làm con cái sợ ông, xa ông mà không mến thương ông. Lẽ ra, ông nên hoà hợp hai yếu tố uy quyền lẫn yêu thương để con cái “kính nhi ái”, nghĩa là kính mà yêu. Vì ích gì khi con cái chỉ sợ mình và nghe theo mình bề ngoài, còn bên trong chúng bất phục vì uất ức? Sau đây là câu nói đáng nhớ: “Trừng phạt là như cặp kính, đeo kính để thấy sáng tỏ hơn, chứ không phải để mù loà” (Lê Văn Khoa). La mắng, đánh phạt con, là để con thay rõ hơn cái sai quấy mà tránh, chứ không phải thoả mãn cái tức bực nóng nảy của mình, làm con cái đâm quá sợ mà rối trí, hoặc quá ức mà đâm ghét, không còn muốn làm theo lời sửa dạy nữa. Thế là làm nó thành mù loà. Vai trò của người cha phải là thay mặt Chúa mà nói với con cái, như vị sứ ngôn thay mặt Chúa mà nói với dân ưùnh. Hãy nghe Chúa trao sứ mệnh cho tiên tri Yê-rê-mia: “Coi! Hôm nay, Ta cử ngươi coi các dân, các nước, để ngươi nhổ và lật đổ, để huỷ và để phá, đế xây dựng và vun trồng” (Yr 1.10). Cũng như thế, Chúa đặt người cha coi sóc con cái bằng công việc giáo hoá gồm hai phần: nhổ và phá, xây dựng và vun trồng. Người cha dùng lời nói và kinh nghiệm giúp con nhổ rễ các tính hư tật xấu, đập phá những gì nơi chúng không xây dựng theo kế hoạch và Thánh ý Chúa. Ông sẽ vun trồng và xây dựng các đức tính, tập quán tốt: nào nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng…, cả cái đạo làm người lẫn đạo làm con Chúa. Người cha sẽ nói: khó lắm, làm không nổi. Tiên tri Yê-rê-mia cũng thoái thác: “Lạy Chúa! Tôi đâu có biết nói”. Chúa trả lời: “Này Ta đặt lời của Ta trên miệng ngươi, hễ Ta truyền cho người gì, ngươi hãy nói” (Yr 1.7-8). Vừa nói, Chúa vừa đưa tay đụng đến miệng vị tiên tri. Vậy đó! Chúa sẽ đặt Lời Chúa vào miệng kẻ thay mặt Chúa để biết nói, chứ còn tự mình ta, ta không biết nói. Đúng thế! Lời nói riêng của ta thốt ra thường là lời cứng cỏi, nóng nảy, cay chua, có khi rất độc, rất ác, đâm nhói vào lòng, gây nhức nhối, bực bội, phẫn uất… Còn Lời Chúa đặt trên miệng ta mà nói thì hiền từ, êm ái, nghe như thấm vào tim, vào lòng, nhưng lại có sức phá đổ, xây dựng. Phải, Lời Chúa có quyền lực biến đổi tâm hồn, vì lời của Đấng phán một lời, liền có lời đất, mà lại không có quyền lực sao? Vậy, người cha hãy cầu xin Chúa đặt lời Chúa nơi miệng mình. Hãy tin chắc Chúa sẽ đặt Lời Chúa nơi miệng cha mẹ nào hết lòng lo giáo dục con cái theo đường lối Chúa. Phần các bà, cũng phải giúp chồng trong việc dạy con. Nhiều khi các bà làm công việc ấy của chồng thành khó khăn. Chẳng hạn bà nói: “Chốc nữa ba mày về tao bảo ba mày cho mày một trận!”. Bà không bảo được con, bà lấy chồng ra đe nó. Vô tình bà đã biến người cha của chúng thành tên lý hình, lấy uy quyền và sức mạnh làm con cái khiếp sợ, bởi những lời quát tháo đinh tai nhức óc, những cái bạt tai tối tăm mặt mũi, hay những ngọn roi quắn đít, hằn da. Tốt hơn, các bà hãy tạo cơ hội cho tình thương của người cha nảy nở, để cho hai cha con thông cảm và yêu mến nhau. Tuỳ bà vẽ ra thế nào trước mắt con cái, mà chúng thấy cha chúng như thế. Nhiều bà mẹ đã gây trong đầu óc con cái ấn tượng: cha ác, mẹ thương. Không nên! Hãy vẽ ra hình ảnh một người cha đầy yêu thương, đáng kính, không có điều đáng trách. Hãy cứ bênh vực phải lẽ cho ông, hãy tập con cái kính yêu ông, biết ơn ông vì bao hi sinh, khó nhọc của ông đối với gia đình. Như thế, ông sẽ được phấn chấn mà lo nghĩa vụ giáo dục rất khó khán của mình. Tích truyện Một Chúa nhật kia, ông nọ dẫn con lên núi chơi. Trời nóng bức, ông ngả lưng dưới bóng cây râm mát, để con tung tăng đây đó hái hoa, bắt bướm, có lúc nó chạy lại bên cha khoe những con chuồn chuồn bắt được, những cành hoa đã hái. Ông mỉm cười khen: – Đẹp lắm con! Đến sau, ông ngủ vùi, và đang lúc ấy, thằng nhỏ đi chơi xa hơn. Hồi lâu thức dậy, ông sực nhớ đến con. và lên tiếng gọi… – “Con tôi đâu rồi?”, ông tự hỏi. Nhìn quanh nhìn quẩn, chẳng thấy. Ông kêu gọi ầm ĩ, chỉ nghe tiếng ông vọng trên đồi núi… chạy mãi đến một cái vực, nhìn xuống, thì trên đá mấp mô, gai đâm tua tủa, ông thấy thân thể nát nhừ của đứa con yêu nằm sóng sượt. Ông lần mò tụt xuống đáy vực, đỡ cái xác không hồn lên, ghì nó vào lòng… Những giọt nước mắt ân hận, thầm lặng trên gò má… ông tự trách: mình vì lơ là, không coi sóc mà đã giết con… ông đau đớn, sầu khổ vô cùng… Đọc chuyện này, ta có cảm tưởng rằng: biết bao người cha hiện đang ngủ mê, để mặc con cái mình đi trên vực thẳm. Gặp một người cha như thế, hãy hỏi: hiện nay, con của ông đâu? (Trích “Những truyện trích” của Ms. Lê Văn Thái, tr.257).

BÀI LỜI CHÚA 14 CÁC NGƯỜI BỀ TRÊN

Mấy bài Lời Chúa trước đây dạy thảo kính cha mẹ là bề trên mình. Lời Chúa dạy ta còn phải phục tùng nhiều bề trên khác. Trong số đó, có nhà cầm quyền dân sự. Đó là đề tài của bài Lời Chúa hôm nay.Trích Tin Mừng Thánh Mátthêu 22.15-22 Bấy giờ, Biệt phái đi bàn mưu để làm Ngài lỡ lời mắc bẫy. Họ sai đến với Ngài môn đồ của họ làm một với phe cánh Hê-rô-đê. Các người ấy nói: – Thưa Thày, chúng tôi biết Thày là người ngay thật, và dạy đường lối Thiên Chúa một cách chân thành, Thày không bận tâm vì người này, người nọ… Vậy xin cho chúng tôi hay: được phép nộp thuế cho Hoàng đế (La mã) hãy không? Thấu suốt lòng hiểm ác của họ, Đức Giêsu nói: – Tại sao lại đánh bẫy Ta, đồ giả hình? Đưa Ta coi đồng tiền nộp thuế! Họ đem đến cho Ngài một đồng quan. Ngài nói với họ: – Hình này và chữ khắc này của ai đây? – Của Hoàng đế. Bấy giờ Ngài bảo họ: – Vậy thì hãy trả của Hoàng đế cho Hoàng đế, và của Thiên Chúa cho Thiên Chúa. Nghe thế, họ kinh ngạc và rút lui.* Đó là Lời Chúa! – Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa! Suy niệm Lời Chúa Câu chuyện trên đây xảy ra vào những ngày cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu. Chúa được dân chúng công khai đón rước vào thành Yêrusalem cách trọng thể, đám đi trước, đám đi sau đều hoan hô, chúc tụng Ngài là Con Vua Đa-vít, là Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu độ dân Người… Biệt phái thấy vậy, muốn cản mà không được, họ tức tối lắm. Sẵn ghét Đức Giêsu thấu xương từ lâu, nay lại gặp chuyện tầy trời như thế, lửa căm thù họ bừng cháy: họ nhất quyết bầy mưu dồn Ngài vào ngõ chết. Họ đưa ra các chất vấn, để nếu Ngài lỡ lời họ sẽ bắt tội và kết án… Các đợt tấn công như vậy càng ngày càng gay gắt, nhưng lần nào họ cũng thất bại nhục nhã… Có lần này là nguy hiểm hơn cả, vì điều họ hỏi Ngài liên can đến quyền đời lẫn quyền đạo. Dĩ chí, họ đem cả nhóm tay sai của đế quốc, tức là phe cánh vua Hê-rô-đê, thân chính quyền đô hộ Rôma, đến đứng sẵn đó để có thể tố cáo với Phi-la-tô – vị tổng trấn Rôma, vốn tính khắc nghiệt và có sẵn binh lính trợ lực – đến bắt Đức Giêsu ngay tại trận. Bố trí xong xuôi, họ đến cùng Ngài. Câu đầu tiên là lời khen đường mật, lời khen giả hình giả bộ: nào Thày là người ngay thật, nào Thày không vì nể ai, luôn chỉ dạy đường lối Thiên Chúa cách chân thành… Sau câu xã giao bề ngoài thơn thớt đó, đến câu hỏi hóc búa, bất ngờ, khó xử: thật nham hiểm, giết người không dao: “Thưa Thày, xin cho chúng tôi hay, là người Do thái, chúng tôi được phép nộp thuế cho Hoàng đế ngoại đạo hay không?” Câu hỏi đặt Đức Giêsu ở thế lưỡng nan: trở đi mắc núi, trở lại mắc sông. Nếu Ngài dạy phải nộp thuế cho Hoàng Đế ngoại đạo đó, thì Biệt phái sẽ xúi dân coi Ngài như một tên Do-thái-gian, nịnh bợ đế quốc dám coi thường dân có đạo thánh Chúa mà bảo phải phục tùng, là thuộc quyền bính dân Rôma ngoại đạo: như thế, uy tín Đức Giêsu sẽ bị sụp đổ. Nếu Ngài dạy đừng nộp thuế, bọn tay sai đế quốc có mặt đó sẽ tố cáo Ngài là tên phá rối trị an, là phản động, là cổ võ không nộp thuế, bất phục tùng chính quyền… Đức Giêsu gỡ thế bí ấy cách nào? Là Đấng thượng trí siêu phàm, Ngài “thấu suốt cõi lòng hiểm ác của họ”, nên qua lời đầu tiên, Ngài cho họ biết Ngài không dễ gì bị lường gạt: “Tại sao lại gài bẫy Ta, đồ giả hình! Sau đó, Ngài bảo: “Đưa Ta coi đồng tiền dùng để nộp thuế!”. Họ móc túi đưa ra cho Ngài đồng quan. Ngài hỏi: đồng tiền này khắc hình và tên của ai?” Họ đáp: “Hình và tước hiệu của Hoàng Đế”. tức là Hoàng Đế Ti-bê- ri-ô đang trị vì. Qua cử chỉ đó, cái hay của Đức Giêsu là vạch cho họ thấy họ đang mang trong mình tiền của Hoàng Đế Rôma, đang sử dụng tiền ấy trong việc giao dịch, mua bán hàng ngày, hưởng những lợi ích kinh tế mà chính quyền Rôầ vẫn đem đến cho họ; như thế, trong thực tế, họ đã chấp nhận lệ thuộc quyền bính ấy rồi. Vì theo quan niệm xưa, đồng tiền của Hoàng Đế được tiêu dùng tới đâu là quyền bính của ông lan rộng tới đó. Như vậy, chính hành động và cuộc sống thực tế của họ chứng tỏ họ đã và đang lệ thuộc quyền bính Rôma rồi còn gì, vậy thì thật dư thừa khi còn đặt câu hỏi có nên nộp thuế nữa không, vì coi nộp thuế là một hình thức lệ thuộc. Đức Giêsu kết luận: Cái gì thuộc về Hoàng Đế, hãy trả cho Hoàng Đế. Nhân tiện, Đức Giêsu đi xa hơn và nêu ra một nguyên tắc trọng đại: Phải “trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa”. Nên lưu ý: Đức Giêsu không đề cao sự phục tùng Hoàng Đế. Không! Ngài chỉ đặt vấn đề đúng chỗ của nó: của ai trả cho người nấy, đó là công bình, đó là trật tự. Biệt phái xấu hổ rút lui, cuộc giăng bẫy ác hiểm đã hoá ra vô hiệu, không cách nào bắt bẻ Đức Giêsu được, vì quyền lợi của Hoàng Đế không bị đụng chạm và nhất là quyền lợi Thiên Chúa (quyền lợi của đạo) lại được đề cao: đẹp đời, tốt đạo! Nói cách khác: tuân phục và nộp thuế cho chính quyền Rôma không giảm bớt chút gì quyền lợi của Thiên Chúa cả (lời chú thích này có ở bản Kinh Thánh của linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn). Nghĩa là có tùng phục, có làm những bổn phận (như nộp thuế chẳng hạn) là quyền đời có quyền đòi hỏi cách chính đáng, cho dù đó là quyền bính ngoại đạo như Rôma đối với dân Israen, thì cũng không có gì là phạm thánh, phạm đến luật đạo hay phạm đến quyền lợi của Thiên Chúa. Vì tuy rằng Nước vĩnh cửu của Thiên Chúa đã được thiết lập trên trần gian này rồi, do Đức Giêsu thực hiện; song các nước thế gian vẫn được hành xử quyền bính chính đáng của họ trong lãnh vực thuộc về mặt đời của họ, tuy một cách tạm thời, nghĩa là bao lâu lịch sử trần gian còn tiếp diễn. Như vậy, Đức Giêsu đã dạy cho ta biết: người Kitô hữu, tuy là công dân Nước Trời (Ph 3.20), song bao lầu côn sống trên dương thế, ta cũng là công dần của một quốc gia, dân tộc, không được phép bỏ bổn phận đối với quốc gia, dân tộc ấy – tức là bổn phận công dân – lấy lẽ rằng quốc gia ấy, quyền bính ấy ngoại đạo, hoặc lấy lẽ rằng ta chỉ chu toàn bổn phận thuần tuý tôn giáo thôi. Thánh Phaolô sau này cho biết lý do lại sao phải phục tùng quyền bính dân sự: “Vì không quyền bính nào mà lại không do tự Thiên Chúa mà ra, và những quyền chức hiện hữu đã do Thiên Chúa thiết định. Cho nên, ai chống lại quyền bính là đối địch với điều Thiên Chúa qui định…” (Rm 13.1-2). Thiên Chúa có cho phép, có để, thì họ mới lên cầm quyền được. Đó cũng là do ý Thiên Chúa an bài, sắp đặt cả. Vậy phải tùng phục quyền bính không vì sợ hãi, sợ phạt hoặc vì thấy có lợi, song vì đó là một bổn phận của lương tâm (Thánh Thư nêu trên nói rõ điều ấy trong c.5). Cho dù sau đó ít lâu, chính quyền Rôma phát động mấy cuộc cấm đạo đầu yên, Thánh Phaolô cũng không nói thế khác, ông vẫn bảo Giám Mục Titô là đồ đệ ông rằng: “Con hãy nhắc nhủ các tín hữu phải phục tùng, tuân lệnh những người cai trị cầm quyền, phải sẵn sàng tra tay làm mọi việc lành, đừng thoá mạ ai…” (Tt 3.1). ông còn đi xa hơn: “Tôi truyền phải dâng lời khẩn xin, cầu nguyện cho hết mọi người, cho Vua, Chúa, và hết thảy những người quyền chức…, ngõ hầu ta được qua một đời yên hàn, ổn định trong đạo đức vẹn toàn và nghiêm chỉnh…” (1 Tm 2.1-4). Tích truyện Chính Đức Giêsu treo gương phục tùng ấy đối với tổng trấn Phi-la-tô, là một người Rôma ngoại đạo, và sẽ ra lệnh giết Ngài trên thập giá. Số là khi Philatô thẩm vấn Ngài, thấy Ngài không đáp lại lời nào, Philatô bực tức nói: – Ông không nói ư? ông không biết rằng ta có quyền tha ông mà cũng có quyền đóng đinh ông sao? Phi-la-tô nghĩ rằng mình có quyền tuyệt đối, vì ông đại diện Hoàng Đế, chúa tể cả một đế quốc. Ông cho ai sống thì kẻ ấy được sống, ông bắt ai chết thì kẻ ấy phải chết. Nhưng ông đã bị Đức Giêsu phá tan ảo tưởng ấy, Ngài nói: – Ông không có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho. Bởi thế, kẻ nộp tôi cho ông thì mắc tội nặng hơn (Ga 19.9-11). Nói vậy, Đức Giêsu có ý bảo: quyền bính mà Phi-la-tô đang nắm giữ là do từ Thiên Chúa, “từ trên ban cho”, nên ông mới có thể định đoạt, kết án Ngài phải chết. Như thế, ông chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa, vì chính Thiên Chúa muốn Ngài phải hi sinh chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Lãnh nhận án bất công của Philatô như thế, là Ngài tùng phục ý Thiên Chúa, chứ thực ra Phi-la-tô không có quyền bắt Ngài phải chết hay cho Ngài sống được (x. Ga 10.18). Vậy, ta đã rõ bổn phận phải tùng phục quyền bính dân sự trong mọi điều chính đáng thuộc địa hạt của họ, chỉ trừ khi nào quyền lợi của Thiên Chúa hoặc luật Thiên Chúa và Hội Thánh bị xâm phạm (chẳng hạn như nhiều nước bên phương Tây cho phép ly dị), lúc ấy ta phải nói như Chúa Giêsu dạy: “(Quyền lợi) của Thiên Chúa phải trả cho Thiên Chúa”, hoặc như Thánh Phêrô và các tông đồ, can đảm tuyên bố trước toà án Do thái: “Phải vâng phục Thiên Chúa hơn là người ta” (Cv 5.29). Về những điều này, xin bàn hỏi với những Đấng có khả năng giải đáp, ở đây không nói cặn kẽ hết được. Hôm nay, gia đình ta làm giờ cầu nguyện để đền tạ Chúa, vì bao lỗi lầm đã phạm về điều này. Phạm điều này, ta cũng có lỗi với Chúa như phạm các điều Chúa truyền dạy khác. Vậy cùng nhau ta đọc kinh đền tạ.

BÀI LỜI CHÚA 15 QUAN HỆ CHỦ TỚ

Bài hôm nay nói về quan hệ giữa người đầy tớ và người chủ. Đối với xã hội Việt Nam hôm nay, điều này không còn hợp thời nữa. Nhưng xin cứ tạm dùng lối nói đó, mà hiểu rộng ra về mối quan hệ giữa người giúp việc, làm công, công nhân, thợ, bề dưới… với người làm đầu, làm chủ, bề trên, có trách nhiệm…Phỏng theo sách Khởi Nguyên ch-16 Thiên Chúa đã hứa cho A-bra-ham sinh một con trai, và từ đứa con ấy, cả dòng giống đông như sao trời, cát biển. Nhưng Sa-ra, vợ ông lại hiếm muộn, son sẻ, không thể sinh sản được. Bà khuyên chồng lấy người tớ gái của bà, tên là Ha-ga, làm hầu thiếp, như thói tục thời đó cho phép, vì chưa có luật nhất phu nhất phụ: đứa con nó sinh ra sẽ được coi là con của chính thất. Bà nói: – Này, ông coi, Yavê bắt tôi phải hiếm con. Vậy xin ông ăn ở với con thị tỳ của tôi. Hoạ chăng nhờ nó, tôi cũng được mụn con. A-bra-ham nghe theo lời vợ ăn ở với Ha-ga, nàng đã có thai. Nhưng đứa tớ gái này không có lòng cao thượng như bà chủ: thấy mình có con, nó quên thân phận hèn kém, lên mặt lên mày, coi khinh bà chủ, đến nỗi bà Sa-ra phải than phiền với chồng. A-bra-ham đáp: – Này bà, đứa hầu gái nó là phận dưới bà, bà cứ sửa dạy nó như ý bà. Được lời chồng, bà Sa-ra không còn nương tay, bà hành hạ nó, đến nỗi nó phải bỏ trốn về quê quán bên Ai cập. Dọc đường, một hôm, Ha-ga mệt mỏi dừng chân bên giếng cạn mà khóc than nỗi cơ cực. Thình lình, Thần sứ Thiên Chúa hiện ra phán: – Ha-ga, thị tỳ của Sa-ra, từ đâu ngươi đến và ngươi sẽ đi đâu? – Tôi trốn tránh bà chủ của tôi là Sa-ra. Thần sứ dạy: – Về với chủ ngươi đi và lo phục tùng dưới tay bà. Để an ủi, khích lệ nàng, Thần sứ hứa cho đứa con nàng đang mang thai một tương lai lớn lao: – Ngươi sẽ gọi tên nó là Is-ma-en. Nó sẽ là tổ của dòng dõi những người sống phiêu du trong sa mạc. Nó sẽ lập cơ nghiệp đối diện với các anh nó, một mình chống lại mọi người. Ha-ga đã nghe theo lời, trở về vâng phục bà Sa-ra, chứ không còn dám lên mặt như trước, chấp nhận địa vị của mình. Thiên Chúa chúc phúc cho nàng và nàng đã sinh cho A-bra-ham một con trai, đặt tên như Thần sứ đã bảo. Lời hứa của Thần sứ tiên báo về một dòng giống phiêu du kiêu hùng, đã thực hiện từ 4.000 năm nay: Is-ma-en, chính là ông tổ các dân Ả rập, bá chủ những giải đất sa mạc mênh mông bên Trung Đông. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Bài Lời Chúa hôm nay trình bày cho ta thái độ của hai người chủ tớ Bà chủ hồi trước có lòng đại độ, nhường cho người tớ quyền làm vợ chung với mình, nhưng sau đã đổi ra hành hạ tôi tớ, đến nỗi nó phải bỏ trốn. Còn người tớ, trước kia đã xấc xược với chủ, sau nghe lời Thiên Chúa, quay trở về phục tùng và khiêm nhường nhìn nhận bà như người thay mặt Chúa, có quyền trên mình. Như vậy, ta thấy bên nào cũng có bổn phận và cũng có quyền lợi. 1/ Ta cùng nhau lần lượt xem về bổn phận và quyền lợi của người chủ, người làm đầu: Cho hạng người này, Chúa Giêsu đã dạy và treo gương sáng trước. Ngài bảo: hãy coi chức vụ làm đầu, làm chủ không để đè đầu người khác, song là để phục vụ. Một hôm, có mẹ con ông Zê-bê-đê đến xin Chúa cho hai con mình, một đứa ngồi bên tả, một đứa ngồi bên hữu Ngài trong Nước Ngài sấp lập, tức là xin hai ghế Bộ Trưởng cao nhất. Đức Giêsu đã nhân tiện dạy bài học này: – Các con biết: thủ lĩnh các dân thì làm chúa trên họ, và những người làm lớn thì đè đầu trên dân. Còn giữa các con, là Kitô hữu với nhau, thì không được đối xử như thế. Ai muốn làm lớn, thì hãy hầu hạ người khác. Ai muốn cầm đầu, thì hãy là tôi tớ cho mọi người. Cũng như Thày đây, Thày đến trong trần gian không phải để được người ta hầu hạ, nhưng là để chính Thày hầu hạ và thí mạng để làm giá chuộc các linh hồn (Mt 20.20-28). Chúa không chỉ nói suông, Ngài đã thực hành. Đó là trong bữa Tiệc ly, Ngài cởi áo choàng, thắt một khăn làm việc, lấy chậu nước, quì xuống rửa chân các tông đồ, ngay cả Yuđa nữa. Các tông đồ kinh hãi vì thấy Chúa mà làm việc hầu hạ thấp hèn như vậy sao. Chúa cứ làm, xong rồi Ngài bảo: – Nếu Thày là Thày và là Chúa, mà còn cúi xuống rửa chân hầu hạ chúng con như một tên đầy tớ. Vậy thì chúng con hãy nói theo gương Thày mà hầu hạ, làm tôi nhau (Ga 13.4-15). 2/ Nếu chưa đạt tới đỉnh cao ấy, ít ra, các người cầm đầu, làm chủ hãy đối xử tử tế với kẻ dưới quyền mình. a/ Bổn phận phải đãi ngộ cồng bình là điều trước hết. Thánh Phaolô dạy: “Chủ hãy xử đãi với tôi tớ theo sự công bình, biết rằng chính các ngươi cũng có chủ (là Thiên Chúa) trên trời” (Cl 4.1). Cho nên phải trả công, trả lương hay thù lao cho người giúp việc cho cân xứng. Ngày xưa, vua Yô-a-kim, nước Yuđa, ưa hào nhoáng, thích xây cất lâu đài mình cho sang trọng, vua dùng dân công làm phu mà không trả công, ông bị tiên tri Yê-rê-mia quở trách: “Khốn cho kẻ xây nhà bằng bất công, lầu gác bằng phi nghĩa, và bắt đồng loại phục dịch dưng không, rồi quịt cả tiền công của nó… Mắt ngươi, lòng ngươi chỉ nhìn cái lợi của mình, cho nên con người ấy chết sẽ không ai than khóc…, đám ma nó, đám ma con lừa, lôi đi xành xạch mà quẳng xa, mãi ngoài cổng thành” (Yr 22.13,17-19). Thánh Giacôbê còn nói dữ hơn: “Kẻ ăn chận tiền công của thợ, hoặc nhờ đầu cơ tích trữ bất công mà làm giàu, chất của, thì đồng tiền của kẻ ấy từ trong két bạc sẽ réo lên đòi báo phục: ‘Hãy rú lên, khóc lên, vì những khốn khó sắp giáng xuống trên các ngươi: của cải các ngươi đã ra thối nát, và xiêm y các ngươi đã bị mọt gặm. Vàng bạc của các ngươi sẽ bị sét rỉ, và sét rỉ của chúng sẽ làm chứng cáo tội bất công của các ngươi, ăn thấu xương thịt các ngươi như lửa mà các ngươi tích luỹ thành một lò cho ngày cánh-chung sẽ đốt các ngươi’” (Gc 5.1-6). Luật Cựu Ước, tuy cổ xưa từ 3.000 năm hơn, mà dạy nhiều điều rất nhân đạo hơn cả thời văn minh của ta bây giờ. Tỉ dụ như: không những không được quịt tiền công, đừng bóc lột đồng loại, đừng cướp của cải, mà còn ngay đến giữ lại tiền công nhật đến ngày mai mới trả cũng không được (Lv 19.13; Tl 24.15), vì thợ công nhật ngày nào lãnh lương để ăn ngày đó, bị cầm giữ lương tức là đói. Thiên Chúa không muốn vì lỗi ta mà người khác phải đói. Ít ra, người Kitô hữu hãy thử xét lại coi: ngày nay, chúng ta có lỗi các điều ấy không? b/ Chúa còn dạy người làm chủ phải cho người giúp việc, người làm công, tôi trai tớ gái, con cái trong nhà… được nghỉ ngơi dưỡng sức ngày cuối tuần là thứ bảy – ngày nay đối với Hội Thánh là ngày Chúa Nhật. Nhiều người vì tham lam, ngay cả nhiều cha mẹ, không có lòng tin vào Chúa quan phòng (Mt 6.25-34), sợ đói, sợ thiếu…, nên bắt con cái và người nhà làm việc cả ngày thánh đó. Đang khi luật Cựu ước nhân đạo đến mức buộc phải cho cả trâu, bò, lừa, ngựa… đã cùng con người lao động trong 6 ngày, được nghỉ ngơi ngày đó! Chúa phán: “Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Nhưng ngày thứ bảy là hưu lễ kính Thiên Chúa của ngươi, ngươi sẽ không được làm bất cứ việc gì, ngươi và con trai, con gái ngươi, tớ trai, tớ gái của ngươi, thú vật của ngươi… Vì trong sáu ngày, Yavê đã làm nên trời đất và muôn vật, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi thế, Yavê đã chúc lành cho ngày thứ bảy và tác thánh nó” (Xh 20.9-11; Tl 5.12t). Ở đây chúng ta không thể nói hết các bổn phận khác được…, chỉ nêu ra vài điểm đáng lưu ý nhất, chắc còn nhiều dịp ta sẽ được nghe bổ túc thêm sau. Còn về bổn phận và quyền lợi của người giúp việc, kẻ làm công, xin để kỳ sau. Gia đình ta làm giờ đền tạ này để xin Chúa tha thứ vì các thiếu sót hay vi phạm bổn phận người làm đầu, làm chủ. Xin Chúa cho mọi người trong gia đình, ngoài xã hội, biết thực thi điều Chúa dạy (qua Kinh Thánh) và Hội Thánh dạy (qua các Thông điệp của các Đức Giáo Hoàng, cách riêng) về bổn phận người làm đầu, làm chủ này.Tích truyện Khi Ya-cob trốn cơn giận của Ê-sau tìm chàng để giết, vì chàng phỗng mất chúc lành cha dành cho anh cả, thì chàng đến nhà người cậu là La-ban, ở xứ rất xa, để trú ngụ. Bắt đầu, La-ban cũng có vẻ tử tế, ông nói với chàng: Tuy là cháu, song giúp việc cho ông, thì ông sẽ trả công. Nhưng lúc ấy, Ya-cób đâu cần công xá gì, vì chàng đã mê con gái út của La-ban là cô Ra-ken, vóc dáng xinh đẹp, dung nhan mỹ miều, nên chàng nói: – Cháu xin ở làm công cho cậu bảy năm, để chỉ xin cưới Ra-ken thôi! Thế là chàng đã ở giúp việc cậu bảy năm. Kinh Thánh nói: “Những năm ấy đối với chàng chỉ như vài ngày thôi, bởi chàng quá yêu nàng”. Hết 7 năm, La-ban cho làm lễ cưới. Nhưng ông là người tham lam, keo kiệt và biển lận; ông thấy Ya-cob còn trẻ, lại lực lưỡng, khoẻ mạnh, ông bèn lập mưu đề chàng phải làm công cho ông thêm 7 năm nữa. Tiệc cưới đã tàn, chiều tối hôm ấy, theo tục lệ miền Thượng Lưỡng hà địa, cô dâu phải phủ khăn che kín mặt cho đến đêm động phòng, ông La-ban đã lấy cô chị là Lê-a, xấu hơn, dẫn đến phòng hoa chúc cho Ya-cob. Vô tình, Ya-cob đã phối hiệp với nàng. Sáng ngày, bảnh mắt nhìn ra mới biết té ra không phải Ra-ken, người chàng mơ tưởng. Bị lừa vố đau, Ya-cob trách ông cậu đã phỉnh mình. La-ban đáp: – Nơi chúng tôi không có thói quen gả con út trước con cả. Cậu sẽ gả con Ra-ken cho cháu nữa, nếu cháu chịu ở giúp việc 7 năm nữa. Vì quá yêu Ra-ken, Ya-cob đành phải chịu bóc lột để lấy được nàng. Bảy năm nữa chờ đợi và lao động, thành ra 14 năm. Có ai đã trả giá đắt đến thế như Ya-cob để lấy được người mình yêu không? La-ban không chỉ tham lam, quịt công của cháu, ông còn quịt luôn cả tiền của hai cô con gái ông. Tiền cheo cưới của chàng rể trao cho ông, tục lệ bắt ông phải chia cho con gái, ông cũng lấy cả. Chưa hết, nhờ công Ya-cob, ông trở nên giàu có, súc vật đầy đàn, ông chưa lấy làm đủ, ông tìm cách chặn bớt phần chia súc vật cho cháu. Nhưng Thiên Chúa để mắt bênh vực kẻ bị áp bức. Người đã cho Ya-cob trí thông minh, khôn lanh dùng mẹo làm cho đàn súc vật dành cho chàng sinh sôi nảy nở, đầy những con béo tốt, khoẻ mạnh, mà ông cậu keo kiệt cứng họng không thể trách được chàng. Cuối cùng, kẻ nghèo khó trở nên giàu có: Ya-cob được hai vợ, vô số gia súc… và chàng cùng bầu đoàn thê tử súc vật trở về quê mẹ.

BÀI LỜI CHÚA 16 NGƯỜI TRÊN KẺ DƯỚI

Kỳ trước đã nói về bổn phận của người làm đầu, làm chủ. Kỳ này nói về người làm công, giúp việc, người bề dưới…Trích sách Khởi Nguyên, ch.24 A-bra-ham đã già nua tuổi tác, ông gọi người lão bộc tên Ê-li-ê-dê dặn rằng: – Ta muốn ngươi thề với ta cách trọng rằng ngươi sẽ về quê ta, đến với dòng tộc ta mà cưới vợ cho con trai độc nhất của ta là I-sa-ác, chứ đừng cưới vợ trong dân Ca-na-an ngoại đạo, là nơi ta đang lập cư hiện thời. Sau khi đã long trọng thề, lão bộc lấy 10 con lạc đà, đem theo những đồ vàng bạc, vòng vàng xuyến ngọc lên đường đến thành của Na-khor, là anh em với A-bra-ham. Đến gần cổng thành, nơi có giếng nước vào lúc xế chiều; lúc phụ nữ ra múc nước, lão cho lạc đà phục xuống nghỉ ngơi và lão khấn với Chúa rằng: – Lạy Yavê, Thiên Chúa của A-bra-ham, chủ tôi, xin cho tôi được may mắn trong việc này: đây tôi đứng bên giếng nước, và con gái trong thành ra múc. Cô gái nào tôi xin ngả vò cho tôi uống mà cô ấy đáp: “Xin mời ông uống và tôi cũng sẽ múc nước cho cả lạc đà ông uống nữa”, thì đích thị cô ấy là kẻ mà Chúa muốn cho sẽ kết nhân duyên với cậu I-sa-ác, con chủ tôi. Lão chưa khấn dứt lời, thì một cô gái nhan sắc tuyệt vời, đầu đội vò xuống giếng múc nước rồi lên. Lão chạy lại xin: – Làm ơn cho tôi uống một ngụm nơi vò của cô. – Xin ông uống! Vừa nói, cô vừa lanh lẹ hạ vò xuống. Lão uống xong, cô nói: – Tôi sẽ múc nước cho cả đàn lạc đà ông uống nữa nhé! Rồi cô lanh lẹ đi múc nước đổ vào máng cho lạc đà ông uống. Vừa ngắm cảnh ấy xảy ra đúng như điều ông khấn nguyện, ông vừa trầm ngâm nghĩ ngợi: hẳn đây là Yavê cho sự lo lắng việc chủ của ông được may mắn. Đợi cho lạc đà uống xong, ông lấy vòng vàng, xuyến ngọc mà đeo cho cô, đoạn hỏi: – Cô con ai? Nhà ông thân sinh có chỗ cho chúng tôi trọ đêm nay không? – Tôi là con ông Na-khor, nhà chúng tôi có nhiều rơm cỏ, chỗ trọ đêm cũng có. Nói rồi, cô gái chạy về thuật chuyện cho cha mẹ hay. Cha mẹ cô bảo người anh ra đón ông lão bộc về, rồi dọn bữa ăn trước mặt lão nhưng lão nói: – Tôi sẽ không ăn trước khi được nói những điều tôi phải nói. Họ đáp: – Xin ông cứ nói! Và lão bộc nói hết tự sự đầu đuôi: từ khi ông A-bra-ham bắt thề đến lúc ông khấn bên cạnh giếng và đã ứng nghiệm y như lời ra sao, rồi ông kết luận: – Vậy bây giờ, nếu quí vị sẵn lòng thuận theo, mà thi hành kết ước với gia đình ông chủ tôi, thì xin cho biết; bằng nếu không cũng xin nói để tôi lo liệu. Đại diện cho bố, người anh của cô Rê-bê-ca – đó là tên cô gái – nói với ông: – Sự xảy ra thư thế là do Thiên Chúa, chúng tôi không còn nói thế nào khác nữa dâu! Này Rê-bê-ca đang đứng trước mặt ông, chúng tôi bằng lòng gả cho con của chủ ông. Vậy khi ông lão nghe họ đáp thuận rồi, ông phục mình xuống đất thờ lạy, cảm tạ Thiên Chúa, đã khéo dẫn dắt cho mình may mắn thi hành đúng ý ông chủ. Đoạn ông lấy trong bao bị ra đồ vàng, đồ bạc và trang phục làm sính lễ, và đồ tặng cha mẹ, anh em cô Rê-bê-ca. Sau đó, ông cùng mọi người ngồi xuống ăn uống vui vẻ… Ngày hôm sau, ông lão xin phép trở về. Thế là cả gia đình tiễn cô đi, cho cô đem theo người vú nuôi và vài thị tỳ, chúc lành cho cô… rồi cô cùng ông lão và đoàn người cỡi lạc đà lên đường. Phần I-sa-ác, vào buổi chiều kia, đang đi dạo ngoài đồng, ngước mắt lên, chàng thấy đoàn lạc đà trở về… Chợt nhìn thấy I-sa-ác, cô Rê-bê-ca hỏi lão bộc: – Ai đó? Lão trả lời: – Chính con của chủ tôi đó! Nghe vậy, Rê-bê-ca lấy khăn phủ lên mình, vì theo tục lệ thời ấy cô dâu phải lấy khăn phủ mặt trước vị hôn phu cho đến lúc động phòng. Người lão bộc trung tín đã tường trình tất cả công việc mà ông đã hoàn tất mỹ mãn. Xong., I-sa-ác đã lấy Rê-bê-ca làm vợ và chàng yêu nàng hết sức. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ông lão bộc Ê-li-ê-de thật là người tôi tớ trung tín. Ông làm đúng như chủ muốn. Ông còn đem hết tâm hồn làm việc chủ giao đến thành công mỹ mãn, chứng cớ là ông cầu khấn với Chúa để cho việc làm được may mắn, xuôi thuận. Ông không chỉ làm chiếu lệ, được hay không mặc kệ chủ. Khi I-sa-ác được cô vợ đẹp và hưởng hạnh phúc bên nàng là ông thấy mãn nguyện rồi: đời người tôi tớ là phục vụ cho kẻ khác được hạnh phúc. Đó cũng chính là gương Đức Giêsu nêu ra bằng lời nói cũng như cuộc sống của Ngài. Ngài nói: “Ai là người lớn? Người ngồi bàn hay kẻ hầu bàn? Đã hẳn là người ngồi bàn! Còn Ta, Ta ở giữa các ngươi như người hầu bàn” (Lc 22.27). Cách ăn ở của Chúa là của người hầu hạ, giúp việc cho chúng ta, Ngài tận tâm giúp việc cứu linh hồn chúng ta không biết mỏi mệt. Cuối cùng, Ngài còn lấy cái chết làm giá hi sinh chuộc ta khỏi bị chết đời đời. Rõ ràng, đời Ngài là một cuộc phục vụ, hầu hạ. Trong xã hội thời nay, không còn quan hệ chủ và đầy tớ như xưa, nhưng đổi thành quan hệ giữa người làm đầu, chủ xưởng, trưởng phòng, giám đốc, thủ trưởng với công nhân, người giúp việc, người làm công, xã viên, vv…, hoặc giữa Thày dạy nghề và người đi học nghề: may đo, thợ nguội, thợ tiện, thợ sửa ti vi, vv… Như thế, các bổn phận nêu ra sau đây vẫn áp dụng được y nguyên. l/ Bổn phận đầu tiên: phục quyền và vâng lời: Lời Kinh Thánh dạy: “Tôi tớ, hãy vâng phục các người làm chủ đời này trong mọi sự. Đừng theo thói có mặt chủ mới siêng như những kẻ chỉ tìm cách mua chuộc lòng người, nhưng hãy phục vụ với một lòng chân thành, vì kính mến Chúa và thư thể vâng phục Chúa Kitô. Làm gì thì hãy đem cả tâm hồn và tài khéo mình mà làm như thể làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời, bởi biết rằng ai làm lành, sẽ hưởng sự lành nơi Chúa…” (Ep 6.5-8; Cl 3.22-25). “Kính sợ, phục tùng chủ như thế, không chỉ những người chủ tốt lành, khoan dung, biết điều hay biết thông cảm, song cả những chủ ác nghiệt, khó tính”. Thánh Ao-gu-ti-nô nói: “Người tôi tớ cư xử sao cho người chủ thấy phải sai khiến là một điều áy náy, ngại ngùng; còn người chủ ăn ở sao cho người tôi tớ thấy phục vụ chủ là một điều vui sướng”. 2/ Bổn phận thứ hai là trung tín: Làm đúng như chủ dạy, hơn thế, làm cho tử tế, đúng đắn, hoàn bị. Lời Kinh Thánh vừa đọc trên đã nói rõ: “Hãy đem cả tầm hồn và tài khéo, chí thú làm việc… như thể làm cho Chúa”. Ngày nay, vì công việc ta làm nơi các xí nghiệp hoặc hợp tác xã thường có tính cách “dây chuyền”, có nhiều khâu liên kết với nhau, việc của người làm khâu này mà không cẩn thận, vì lười biếng, vì bớt xén, đỡ công cho mình, sẽ ảnh hướng xấu đến người khâu sau, làm công việc của họ nên khó nhọc hơn, và nếu làm ẩu tả trong tất cả các khâu, thì kết quả là tái chế, loại bỏ, và tất cả tập thể, trong đó có mình, đều bị thiệt. 3/ Đừng biển lận, ăn cắp, bớt xén…: (Tt 2.10), như người quản lý bất lương Chúa Giêsu kể trong Tin Mừng (Lc 16.10tt). Có người lấy lý: lấy của Nhà nước, lấy của công không có tội, vì Nhà nước giàu có… Nếu ai cũng nói như vậy, thì cả triệu người công nhân, mỗi người ăn cắp một chút, sẽ làm cho nền kinh tế lụn bại… Tựu trung, cái tội là ở trong lòng, khi ta tham lam, ham muốn của người khác, đó là tội rồi. Điều răn thứ mười nói sao? “Thứ mười chớ tham của người”, dù đã có điều răn thứ bảy nói: “Thứ bảy chớ lấy của người”. Chính Đức Giêsu đã nói: “Tội là tự lòng phát xuất ra” (Mt 15.18-20). 4/ Nghĩa vụ sau đó là làm ích cho chủ mặt vật chất hay mặt tinh thần, biết góp ý kiến xây dựng, biết coi sự tiến bộ, phát triển của chủ, của chung… là điều tâm nguyện như tích truyện dưới cuối sẽ kể. Cũng đừng hùa theo chủ mà làm bậy (2S 13.18,29; 14.29t). Nếu gặp những trường hợp chủ nói xấu xa, vô luân, hay phỉ báng đạo, hoặc dạy mình làm những điều trái lương tâm và luân lý…, thì lúc đó, ta phải bắt chước các tông đồ ngày xưa nói trước mặt vua quan rằng: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn loài người” (Cv 5.29). Đừng vị nể, đừng khiếp nhược, đừng yếu đuối, đừng sợ mất việc làm. Thiên Chúa sẽ lo liệu cho ta. Điều này xin lưu ý các bạn trẻ tuổi cách riêng. 5/ Kinh Thánh còn dạy ta nghĩa vụ phải tôn trọng chủ (1Tm 6.1), chớ cãi trả, chống đối (Tt 2.9t), hoặc nói xấu chủ (2S 19.25tt). Tóm lại, trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở đâu, Chúa cũng dạy ta sống đạo đức, thánh thiện, chứ không chỉ ở nhà thờ. Đạo phải sống trong cuộc đời mới là đạo chân thực. Gia đình chúng ta hôm nay làm việc đền tạ Chúa, hãy thử xét mình xem trong công việc làm ăn, làm việc, giúp việc người khác, ta có sống đúng đạo Chúa dạy không, hay là chỉ có đạo ở nhà thờ, đạo môi mép, còn lối sống thì chẳng khác gì người vô đạo? Tích truyện Na-a-man, một kiện tướng bậc nhất của vua A-ram, ông lại mắc tật phung. May mắn, có đứa hầu gái của vợ ông mách nước: – Nếu đức ông gặp tiên tri của xứ sở tôi, ắt sẽ được khỏi. Nghe vậy, Na-a-man vào trình vua. Vua cho ông đi và cầm một thư giới thiệu. Vậy ông trẩy đi xứ Israen, mang theo lễ vật trọng hậu. Ông cùng đoàn tuỳ tùng đến trước cửa nhà tiên tri Ê-li-da. Tiên tri sai người ra nói: – Ông hãy đi tắm 7 lần trong sông Yor-đan thì da thịt ông sẽ được lành sạch. Na-a-man tức giận bỏ đi. Ông nói: – Kìa! Ta cứ đinh ninh là hắn sẽ trịnh trọng đi ra, rồi đứng dừng lại trước mặt ta mà kêu khấn Danh Thiên Chúa của hắn. Đoạn khua tay đúng chỗ mà trừ bịnh phung. Há nước các sông ở xứ ta lại không tốt hơn tất cả nước sông ở Israen sao? Hà cớ hắn phải bảo ta đi tắm 7 lần ở sông Yor-đan của xứ hắn! Ta lại không thể tắm các sông xứ ta để được sạch sao? Rồi ông quay lưng tức tối ra về. Đầy tớ ông mới tiến lại và khuyên ông: – Chao ôi! Giả như tiên tri đã ra cho Ngài một điều kiện khó khăn nào, Ngài lại sẽ không làm ư? Đằng này, tiên tri chỉ nói với Ngài: tắm đi và ông sẽ được sạch. Nghe lời khuyên hữu lý, ông tỉnh ngộ, làm theo, và quả thật, da thịt ông đã trở lại lành sạch như da thịt của một trẻ nhỏ. Ông trở lại với vị tiên tri của Thiên Chúa để cảm tạ Thiên Chúa và vị tiên tri của Người.

BÀI LỜI CHÚA 17 KÍNH LÃO ĐẮC THỌ

Trích sách 2 Ma-ca-bê 6.18tt Có người kia, tên là Ê-li-da, một người đã cao niên, diện mạo khôi ngô, thuộc hàng ký lục. Ông bị nhà cầm quyền ngoại đạo bắt ăn thịt heo (là điều luật Do thái cấm). Nhưng ông thà chết vinh hơn sống nhục. Những người chủ sự tiệc cúng tà thần, vì quen biết ông lâu năm, nên đã kéo ông ra chỗ riêng mà khuyên nhủ ông giả đò ăn thứ thịt họ đem tới mà ông có phép ăn, như thể ăn thịt lấy ở cuộc tế tà thần của họ. Giả đò như thế, ông sẽ thoát chết. Nhưng ông có một quyết định can đảm, xứng với tuổi ông, với uy tín của tuổi già, với tóc bạc trắng phau, với đức hạnh sáng lạn từ thuở bé, và hơn hết, xứng với luật thánh Thiên Chúa thiết lập. Ông nói: – Vào tuổi chúng ta đây, giả đò là điều chẳng xứng, kẻo lắm thiếu niên nghĩ rằng: lão Ê-li-da 90 tuổi đầu đã qui hàng ngoại đạo, và họ bị lầm lạc vì tôi, bởi tôi tham chút đời tàn vắn vòi mà giả đò ăn thịt luật Chúa cấm, để chuốc lấy cho tuổi già vết nhọ, vết hoen. Quả thế, cho dù lúc này tôi tránh được khổ hình do tay người phàm, thì dù sống hay chết, tôi cũng sẽ không thoát khỏi tay Đấng Toàn Năng. Bởi thế, can đảm thí mạng sống mình đi, tôi sẽ tỏ mình xứng đáng với tuổi già của tôi, và để lại cho hạng thiếu niên tấm gương cao quí, là chết cái chết hạnh phúc, tự nguyện và dũng cảm, để tuân giữ các luật thánh Thiên Chúa. Nói xong, ông tiến lên nơi hình khổ. Những người điệu ông đi, đã đổi thiện cảm họ có trước đó với ông thành ác cảm, vì lời lẽ ông vừa nói họ nghĩ là lời điên khùng. Khi sắp chết dưới trận đòn, ông rên lên và nói: – Đối với Chúa, Chúa biết tôi có thể thoát chết đau đớn, tủi nhục như thế này, nhưng hồn tôi vui sướng khi chịu đòn vọt dữ dằn vì lòng kính mến Người. Vậy ông đã qua khỏi đời này như thế. Trong cái chết, ông đã để lại, chẳng những cho các thanh niên, mà còn cho hầu hết tất cả dân tộc, một gương sáng anh dũng và một ký ức về lòng đạo đức. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Một bậc già cả 90 tuổi đời như ông Ê-li-da thật đáng kính trọng mọi bề: nào đạo đức, trung tín giữ luật thánh Chúa, nào can đảm, không sợ đòn đánh đến chết, nào khôn ngoan trong những lời lẽ chân thành và sáng suốt. So với ông già ấy, nhiều người trẻ phải thẹn thuồng… Quả thật, mọi dân tộc đều kính nể tuổi tác và kinh nghiệm của người già. Suốt dòng lịch sử, ngay từ các bộ lạc thái cổ, các bậc lão thần vẫn làm Trưởng tộc, lãnh tụ, tù trưởng. Các dân bán khai cũng có hội đồng cố vấn, gồm các bô lão, hoặc cao niên. Trong Kinh Thánh cũng vậy, từ Cựu ước đến Tân Ước, các bậc kỳ lão, niên trưởng luôn đứng đầu các cộng đoàn, hoặc giữ chức cố vấn cho dân (x. 2S 5.3; Ezra 6.7; Cv 20.17-28…). Trong Kinh Thánh, rõ làng Chúa đay phải kính trọng bậc cao niên, vì tuổi già biểu tượng cho Thiên Chúa, Đấng Vĩnh Cửu, Đấng Hằng Sống đời đời. Tróng sách Đa-ni-ên, Thiên Chúa hiện ra với tiên tri dưới hình dáng một “vị Cao Niên, đầu tóc Ngày trắng như len đã phiếu giặt” (Đn 7,9; Kh 1,14). Bởi đó, có lời Chúa dạy: “Trước mặt kỳ mục, ngươi sẽ đứng lên, ngươi sẽ kính nhan người già cả” (Lv 19.32). “Đừng ngược đãi người già, song hãy khuyên can như thể cha mình” (1Tm 5.l). Chúa còn dạy tôn trọng người già vì sự khôn ngoan của họ: “Đừng khinh bỏ lời dạy dỗ của người già, vì chính họ đã thụ giáo với tiền nhân; nhờ đó, con sẽ hấp thụ tinh khôn, để khi cần đến có phương ứng đáp” (Hc 8.9). Truyền thống gia giáo Á đông chúng ta từ xưa vẫn cung kính các bậc trưởng thượng, cao niên: “Kính lão đắc thọ”; và vẫn đề cao sự khôn ngoan, từng trải của các vị khi nói: “Đi thì hỏi già, về nhà thì hỏi trẻ”. Còn ngày nay thì sao? 1/ Phải thú nhận là người đời nay đã đánh mất khá nhiều sự kính trọng tuổi già. Một phần do tinh thần dân chủ, bình đẳng, làm người ta không còn câu nệ, trọng kính tôn ti, đẳng cấp như xưa. Nhưng cái nguyên do chính là tinh thần của thời đại duy vật chất, duy lợi, duy ích đã xui khiến người trẻ, cả trẻ con nữa, khi đánh giá một người nào là xét theo những tiêu chuẩn về trẻ trung, sắc đẹp, sức lực, thân xác, về những tài khéo (như hát hay, nhảy giỏi, phá kỷ lục…), hoặc về năng lực sản xuất, sáng kiến giỏi. Người thời nay đã đánh mất lòng quý trọng sự khôn ngoan, sự từng trải do kinh nghiệm lâu năm của tuổi già… mà chạy theo kiến thức rộng, khoa học, kỹ thuật tiến bộ, mới mẻ, tiện nghi… Đà tiến bộ mau lẹ của kỹ thuật trong mọi lãnh vực làm cho người già mất đất đứng, mất chức vị, mang bộ mặt lạc hậu và coi ý tưởng của họ là “quá đát”, lỗi thời… Bởi tất cả các lý do trên, người già cứ dần dần mất chức vị và không được nể vì… 2/ Nhưng con người vẫn là con người. Lịch sử cho đến ngày nay vẫn minh chứng rằng: loài người và mỗi dân tộc đều rất cần đến sự sáng suốt của những người cao niên, và cần những kinh nghiệm của bậc lão thành. Bậc lão thành nhìn đời và thời đại mình dưới ánh sáng vĩnh cửu. Họ đã từng trải nhiều, đã rút được từ những thất bại, những tranh đấu và những tiếp xúc với người đời, sự khôn ngoan và kinh nghiệm. Sự khôn ngoan cùng kinh nghiệm ấy không gì thay thế được, vì chỉ tuổi đời mới đem lại cho. Những người trẻ biết đời chỉ một khía cạnh và cách hời hợt. Những người già đã nhìn đời lâu và có thời giờ nhìn dưới nhiều góc cạnh, đã làm việc, đã gặp gỡ nhiều người, đã thành công và đã thất bại… Họ biết nhiều về cuộc đời, về tâm lý, về con người… Chính cái vốn liếng khôn ngoan, từng trải ấy có thể giúp đỡ người trẻ đỡ vấp váp trong cuộc đời. Vì thế, khi đi vào cuộc đời, bạn hãy hỏi ý kiến của người già: “Đi hỏi già ” thật đúng thay! Mà các bạn nên nhớ: có những cái vấp váp nhẹ, nhưng cũng có những vấp váp nặng, mà suốt đời bạn không bao giờ còn ngóc đầu lên nổi: Nếu các bạn được một người cao niên giúp bạn tránh tai hoạ ấy, các bạn có thấy quí không? Xin lấy một ví dụ: Một thanh niên nói: “Cô gái này dễ thương, tôi sẽ cưới cô làm vợ!”. Người cao niên đầy kinh nghiệm thì nhìn xa hơn. Ông cũng thấy quả cô ấy dễ thương thật, nhưng cô ấy thiếu một đức tính gì quan trọng làm người chồng sẽ không thể tin cậy hoàn toàn vào cô, và sau này, cô sẽ có thể bất trung với chồng và không dạy dỗ con cái cho nên được. Vậy thực tế, ta phải đối xử với người già làm sao? Bài suy niệm Lời Chúa hôm nay, cố ý dành riêng cho giới trẻ. Nhưng nhiều khi phải thú nhận rằng: người lớn cũng đã thiếu kính trọng ông già, bà cả trong cũng như ngoài gia đình, cho nên con cháu bắt chước mà vô lễ với họ. Muốn con cháu sau này kính trọng ta lúc tuổi già, ta phải kính trọng người già cả trước, như tích truyện ở cuối sẽ cho thấy. Nhiều gia đình có lỗi hay nhiếc mắng người già, hoặc xử tàn tệ, rẻ rúng, để các cụ thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu những thứ cần dùng trong đời sống. Thường ta đối xử tệ bạc là do họ không còn làm ra tiền nữa. Quả thực, người già không còn làm việc, hoặc không làm ra tiền, song trong quá khứ, họ đã làm việc nhiều, và trên hết, họ có một chức vị, có một sự đáng kính do tuổi tác và do kinh nghiệm. Chẳng phải nhờ những người già cả này, mà các thế hệ sau nhận được không những sự sống, mà còn là tất cả những của cải, những phong phú của cuộc đời ư? “Con người có bố có ông, như cây có cội, như sông có nguồn”. Đó là giá trị của họ, là chức vị của họ: chỉ ngần ấy thôi, họ cũng đáng ta kính trọng rồi. Vậy lòng kính trọng ấy, ta hãy biểu lộ ra bằng hành vi, cử chỉ, tỉ dụ như lễ phép chào hỏi, không cướp lời, cắt ngang lời họ, nhường chỗ tốt, nhường món ăn ngon cho họ, đừng ăn nói hỗn hào, chỉ trích, phê bình, chê bai…, nhất là chê họ cổ hủ, lạc hậu, vv… Ta còn phải làm vui lòng họ bằng cách đến tiếp xúc, thăm viếng, xin ý kiến họ, xin họ chỉ bảo cho… Và trên hết, giúp đỡ họ những điều cần thiết cho tuổi già, nhất là sự ân cần và lòng thương mến. Rồi tuỳ sức, tuỳ khả năng, ta cung cấp cho họ một cảnh sống thích hợp với tuổi tác và sức yếu mòn của họ, thuốc men khi cần, thức ăn uống thích hợp và một đôi điều để tiêu khiển. Ta hãy dành một chút thời giờ săn sóc họ, vì nhớ lời Chúa Giêsu dạy: “Sự gì các con làm cho một kẻ bé mọn, yếu hèn nhất trong các anh em Ta, là các con làm cho chính Ta” (Mt 25.40). Còn biết bao việc phục vụ nho nhỏ như mang một lá thư đi bỏ, viết giùm một bức thư cho họ, giúp họ băng qua đường phố đông xe cộ đừng làm ồn ào, nói to để họ ngủ an giấc, vv… Cuối cùng, hãy nên nhớ một ngày kia, đến phiên ta cũng sẽ già và cần người trẻ giúp ta, săn sóc ta, đối đãi ân cần và thương mến ta. Hôm nay, gia đình ta làm giờ đền tạ này, xin Chúa tha thứ bao sai lỗi trong việc không kính trọng người già cả. Tích truyện Một hôm, khách qua đường xúm xít đứng xem một gã đàn ông đang chửi bới và đánh đập một ông già, ý chừng là bố hắn. Cuối cùng, hắn lôi xềnh xệch ông già nọ ra tới thềm cửa, rồi vứt ông nằm sấp ngang bực cửa. Ai ai thấy thế đều chép miệng than thầm, thương hại ông già và nguyền rủa người con một lúc sau, gượng dậy được, ông già thấy người ta bu quanh thì khoát tay nói: – Thôi! Mấy người đi về đi, có chi lạ đầu! Cũng đừng nguyền rủa thằng con trai tôi làm gì! Nó làm đúng như tôi đã làm cho bố tôi hồi trước. Tôi nhớ lắm, tôi cũng lôi bố tôi và đẩy ngã sấp xuống cái thềm này đây, như Tôi hôm nay.

BÀI LỜI CHÚA 18 TÌNH ANH CHỊ EM RUỘT THỊT

Trích sách Khởi Nguyên, ch.37 trở đi Ông Ya-cóp có 12 người con. Ông thương cậu Giuse hơn cả, vì cậu là con lúc tuổi già. Ông may cho cậu một chiếc áo đẹp súng sính. Thấy em được cha thương, các anh đâm thù ghét, không thể nói một lời hoà nhã với cậu. Một hôm, ông Ya-cóp sai Giuse đi đưa cơm cho các anh chăn chiên ngoài rừng. Thấy cậu từ xa đang tiến đến, mấy người anh lập mưu giết cậu. Nhưng anh cả Ru-ben can ngăn: – Đừng đổ máu nó, nó cũng là máu mủ ruột thịt với mình. Hãy vứt nó vào giếng cạn kia! Ru-ben định bụng sẽ cứu em mà đem về trả cho cha già. Khi Giuse đến, họ túm lấy, lột chiếc áo đẹp và vứt cậu xuống giếng cạn, rồi họ ngồi xuống ăn cơm. Một lúc, có đoàn lái buôn tải hàng sang bán bên Ai cập. Yu-đa bàn với anh em: – Giết nó là em cùng máu thịt với mình là không tốt, đàng khác nào có lợi gì? Chi bằng ta bán quách nó cho bọn lái buôn kia. Tán thành, họ kéo Giuse lên khỏi giếng, bán cho đoàn lái buôn với giá 20 lạng bạc. Bấy giờ, họ lấy áo của Giuse, nhúng vào máu một con dê, đem về cho cha và nói: – Chúng tôi gặp thấy cái này. Cha xem có phải là áo của con cha không? Ya-cóp cầm lấy áo nhuốm máu và xem: – Thực là áo con ta, thú dữ đã ăn thịt nó rồi! Và ông xé áo mình ra, chịu tang con, khóc lóc thương nhớ lâu ngày. Ông nói: – Chắc ta sẽ chết theo con ta mất thôi! Phần cậu Giuse, sang đến Ai cập, bị đoàn lái buôn đem bán cho quan thái giám Po-ti-pha. Ông rất tin dùng cậu… Từ đó, cuộc đời cậu lúc thăng, lúc trầm. Dù trải qua nhiều gian lao, song cậu phó thác và tin cậy vào Chúa, nên Chúa đã hộ phù cậu được nhiều may mắn. Sau cùng, cậu làm đến chức Tể tướng tại triều đình, lo việc tài chính và lương thực cho cả nước. Xảy ra có nạn hạn hán lớn ròng rã 7 năm trời. Nước Ai cập không hề bị chết đói, vì nhờ tài khéo của Giuse, đã tích trữ những kho lương thực cho cả nước. Nước Pha-lê-tin cũng bị nạn hạn hán và đói khổ vô cùng. Ông Ya-cóp sai các con xuống Ai cập mua lúa. Vào gặp quan Tể tướng, xin mua lúa, mấy anh em đâu có ngờ đó chính là Giuse. Riêng Giuse, trái lại, nhận ra anh em mình, song ông làm lơ, tỏ bộ không biết. Mãi sau, dò hỏi đích xác là cha già còn sống, ông mới tỏ mình ra cho anh em ông: – Tôi là Giuse đây, các anh đã bán sang Ai cập, nhưng Thiên Chúa đã an bài để tôi sang đây trước mà ngày nay cứu sống được cả gia đình. Nghe thế, anh em ông hết hồn và cầm chắc sẽ bị Giuse báo thù. Nhưng nghĩ tình anh em, Giuse đã tha thứ cho họ, còn sai quân về tận quê hương đón cha già sang Ai cập, để hưởng phú quí. Đối với anh em, ông cũng cấp cho đất ở Ai cập để họ làm ăn. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Có biết bao anh em, chị em ruột thịt không biết thương nhau, lại cãi cọ, bất hoà và ganh tị vì quyền lợi như các anh ông Giuse. Vì sao có tình trạng đáng buồn ấy? Thưa: có nhiều duyên cớ, nhưng nói gọn lại cũng do từ nhỏ, các trẻ đã không được dạy cho hiểu tình anh em ruột thịt là quí báu chừng nào, và phải làm gì để bảo vệ nó. Điều ấy như sau: 1/ Không kể cha mẹ ở trên được con như đại diện Thiên Chúa, sinh thành, dưỡng dục; thì dưới có anh chị em ruột, là những người thân cận nhau nhất: Đó là xã hội nhỏ bé đầu tiên của đứa trẻ. Trong xã hội cỡ bỏ túi đó, anh em, chị em được liên kết với nhau bằng giây máu mủ, và được bao bọc bởi tình thương của cha mẹ. Chúng chơi với nhau, học hành, làm việc với nhau, chung một mâm cơm, chung niềm vui cũng như nỗi buồn, cùng dự những ngày lễ gia đình, cùng đọc kinh tối sáng, cũng đi dâng Thánh Lễ… Chúng cảm thấy chung được cuộc sống, chung số phận. Đáng tiếc cho nhà nào chỉ có con một, đứa trẻ sẽ cảm thấy trống vắng, buồn tẻ, nó không có bạn vui đùa, không có anh em để lo lắng, săn sóc, để kể chuyện cho nhau nghe, để học hỏi nhau, khuyên bảo nhau, sửa chữa tính xấu cho nhau, đứa lớn bênh vực, dẫn dắt đứa bé, giúp nhau trở nên người tốt hơn. Rồi đến lúc lớn khôn, cùng nhau bàn bạc, dự anh chuyện này chuyện nọ, khuyến khích nhau học hành, thi cử, hay làm nghề nghiệp… Quả thật, chung sống giữa tình anh em như thế là một ơn huệ quí giá vô ngần cho một con người. 2/ Hưởng được tình thương và mọi lợi ích, thì cuộc chung sống với anh em cũng đặt ra những bổn phận phải thi hành. Nói đến bổn phận, tức là muốn nói đời sống chung giữa anh em với nhau không phải là chuyện dễ dàng. Nó đòi nhiều hi sinh, cố gắng. Nhưng những bổn phận ấy sẽ như rào cản, bảo vệ không cho tính xấu và sự ích kỷ của mỗi người làm sứt mẻ và nứt rạn khối đoàn kết và tình thương giữa anh em, để rồi đi đến xâu xé, thù hận. Sau đây, phác sơ vài bổn phận: a/ Bổn phận trước hết là tôn trọng cá tính, tính tình riêng và quyền lợi của mỗi người: Điều này tập cho mỗi đứa trẻ biết nhẫn nhịn, biết nhượng bộ, cho dù thấy mình đúng, mình có lý, có quyền. Mỗi người có quyền lợi riêng của họ, nên tự nhiên, người nào cũng có xu hướng chỉ nghĩ đến mình, bỏ mặc người khác, hoặc tệ hơn, chà đạp quyền lợi kẻ khác, hay lợi dụng kẻ khác để làm lợi cho mình. Nếu trong anh em ruột, ai cũng chiều theo xu hướng đó, trong gia đình sẽ xảy ra tranh chấp khốc liệt, đó là hoả ngục, chứ không còn là tổ ấm. b/ Cần tập chịu đựng các tính nết xấu, khuyết điểm, lỡ lầm của nhau, như Chúa dạy: “Mỗi người hãy vác lấy gánh nặng của nhau” (Gl 6.1tt). Biết mau làm hoà, biết bỏ qua lỗi lầm, đừng chấp nhất, như ca dao tục ngữ có câu: “Thương nhau thì một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”. Hơn thế, biết làm thoả lòng anh em trong các ao ước, hoặc đòi hỏi chính đáng của họ. c/ Tập coi việc phục vụ là một niềm vui: Hãy sẵn sàng giúp đỡ, phục vụ mà không đòi bên kia phải đền đáp, theo kiểu hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại. Chúa dạy hãy làm đầy tớ cho nhau (Mt 20.26; 23.11), hãy rửa chân cho nhau, hầu hạ nhau như Chúa đã làm gương trước (Mt 20.28; Yn 13.14-15). Anh lớn giúp em bé, người mạnh giúp kẻ yếu, đứa có tài, học giỏi kềm bài cho đứa học kém. Công tác phân chia theo năng lực: con trai việc khó, việc nặng như chở củi, sửa xe, sửa điện, chạy việc; con gái làm việc nhỏ hơn, sống nhiều khi tỉ mỉ, công phu như may vá, làm bếp, giặt giũ… Ngay giữa con trai với nhau cũng khác tài: đứa giỏi tháo vát, đứa giỏi thể thao, đứa giỏi toán, đứa kia lại thích văn chương, vv…; tất cả anh em, chị em bổ túc cho nhau, nâng đỡ nhau. Quả thật, câu Thánh vịnh đã rất đúng: “kìa xem vui thú biết bao, anh em một nhà chung sống thật là đềm êm!” Còn thấy có những trường hợp anh hay chị lớn hi sinh tình yêu và hạnh phúc riêng, không lập gia đình, ở vậy giúp đỡ, nuôi nấng các em ăn học đến thành tài. Tấm lòng hi sinh ấy thật là cao quí! Vậy họ hãy tận tuỵ giúp các em học hành, làm gương sáng cho em, hướng dẫn công việc cho chúng và nhất là làm cho chúng trở nên tốt, nên một công dân ưu tú và xứng đáng một người con Chúa hơn. Nhưng họ cũng hãy nhớ rằng: việc chính trong giáo dục không phải là chỉ trích, la mắng, cho bằng biết khai quang đường lối cho chúng dễ dàng đi đến sự tốt, sự lành, sự thiện. Bài suy niệm hôm nay tới đây tạm ngưng, bài sau sẽ tiếp. Trước khi đọc kinh đền tạ, xin kêu gọi các bạn trẻ, các người đang là anh em với nhau, hãy đón nghe Lời Chúa dạy và lời suy niệm hôm nay, để làm cho đời sống anh em ruột thịt thêm tươi vui, hạnh phúc; và chính mình, khi tuân theo các điều Chúa dạy, là người được hạnh phúc trước tiên. Tích truyện Rất hiếm có gia đình nào mà tình chị em lại đậm đà, tha thiết như gia đình của Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Ngay từ lúc Têrêsa vừa biết nói, hễ lần nào mẹ hỏi: – Con nghĩ gì đấy? Têrêsa đều thưa: – Con nghĩ đến chị Pô-lin (Pauline). Khi Têrêsa nghe nói chị Pô-lin sẽ đi tu, dù chưa hiểu tu là gì, Têrêsa cũng nhủ mình: “Tôi cũng đi tu!”. Nhưng nhất là từ ngày mẹ em mất đi, thì Pô-lin thành một người mẹ thử hai. Hôm ấy, sau lễ an táng, năm chị em mặt ủ mày châu, buồn bã nhìn nhau. Thấy thảm cảnh ấy, người vú cũng đem lòng thương hại, quay nhìn hai đứa nhỏ nhất là Xê-lin và Têrêsa mà nói: – Khốn nạn! Các cô không còn có mẹ nữa! Nghe vậy, Xê-lin chạy đến xin chị Marie làm mẹ. Còn Têrêsa, nhìn Pô-lin cách yêu mến, rồi ngả đầu vào ngực chị mà nói: – Em nhận chị Pô-lin làm mẹ! Ngoài những săn sóc, âu yếm của một chị lớn dành cho đứa em út, Pô- lin còn khéo uốn nắn tâm hồn em nên đạo đức. Khi Têrêsa dọn mình xưng tội lần đầu, Pô-lin bảo: – Hỡi em Têrêsa, nay em đi xưng tội, là em xưng với Chúa, chứ không phải xưng với người nào của thế gian. Chúa Giêsu sẽ lấy nước mắt của Ngài mà rửa sạch linh hồn em. Têrêsa rất thích các lễ trọng trong Hội Thánh. Pô-lin giải nghĩa sự mầu nhiệm của mỗi lễ trọng cho em nghe, làm Têrêsa say mê thích thú. Tối tối, sau khi đọc kinh, Pô-lin dẫn em vào giường ngủ. Lần nào, Têrêsa cũng hỏi chị: – Hôm nay em có ngoan không? Chúa có bằng lòng em không? Các thiên thần nhỏ có bay lượn chung quanh em không? Bao giờ, Pô-lin cũng trả lời: “Có”, rồi hôn em và dỗ em ngủ. Chính Têrêsa viết trong hồi ký: “Em vẫn thường vấn tâm: làm sao chị đã khéo dạy dỗ em như thế? Yêu thì rất yêu, mà không làm em hư”. Têrêsa có lỗi, Pô-lin luôn ra công dạy dỗ, khuyên bảo, và điều gì đã bảo là Têrêsa phải tuân theo, nói rồi không nói lại. Có gì, Têrêsa cũng tâm sự với chị, gặp điều nghi nan cũng hỏi chị để được giải thích. Một lần kia, Têrêsa hỏi chị: – Sao Chúa không ban cho các thánh sự vinh hiển bằng nhau, e rằng các thánh không vui lòng? Người chị liền sai em đi lấy mấy cái ly, cái tách, cái lớn, cái nhỏ, rồi chị rót nước vào đầy các ly, các tách ấy và hỏi Têrêsa: – Cái nào đầy hơn? Têrêsa đáp: – Em nghĩ cái nào cũng đầy cả, không thể đổ nước thêm nữa! Bấy giờ, Pô-lin mới giải nghĩa cho em hiểu: trên thiên đàng cũng vậy, thánh nhỏ nhất cũng không phân bì vinh hiển của thánh lớn, vì Đấng nào cũng được đầy trọn vinh hiển và phúc lộc cả rồi, không còn ao ước gì thêm nữa. Được tình thương của các chị bao bọc, săn sóc, dạy dỗ như vậy, hèn chi Têrêsa chẳng mau làm thánh!

BÀI LỜI CHÚA 19 TÌNH ANH EM RUỘT THỊT (TIẾP)

Trích Tin Mừng Thánh Gioan, ch.11 Ông La-da-rô, em của bà Mat-ta và Maria bị ốm nặng. Hai chị em sai người đi nhắn tin cho Đức Giêsu: – Thưa Ngài, kẻ Ngài thương mến đang ốm liệt. Nghe vậy, Đức Giêsu nói: – Cơn bịnh này không đến nỗi chết, song vì vinh quang Thiên Chúa, ngõ hầu nhờ đó Con Thiên Chúa được tôn vinh (ý Ngài muốn nói: Ngài mà đến chữa thì không chết đâu, song cứ để cho La-da-rô chết, Ngài sẽ đến cho ông ấy sống lại, phép lạ lớn lao này sẽ làm vinh quang cho Thiên Chúa và làm vinh hiển cho Ngài). Do đó, được tin ấy, Đức Giêsu không vội đến, còn lưu lại thêm mấy ngày. Sau đó, Ngài mới đến làng Bê-ta-nia, thì đã chôn La-da- rô bốn ngày rồi. Nghe tin Đức Giêsu đến ngoài làng, Mat-ta vội vàng ra đón tiếp: – Thưa Ngài, nếu Ngài đã có đây, em tôi đã không chết. Nhưng ngay lúc này, Ngài xin cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ nhận lời Ngài. Đức Giêsu bảo: – Em bà sẽ sống lại. Rồi Mat-ta vội vã quay về nhà bảo em gái: – Thày gọi em đó. Vừa nghe nói, Maria vội vàng chỗi dậy mà đi gặp Ngài. Đức Giêsu vẫn còn ở đó. Maria đến trước mặt Đức Giêsu, liền sấp mình dưới chân Ngài mà rằng: – Thưa Ngài, nếu Ngài có mặt đây, em tôi đã không chết. Đức Giêsu thấy bà và các người đi theo đều khóc than, thì Ngài xao xuyến cả mình. Ngài hỏi: – Các ngươi đặt ông ấy ở đâu? Họ đáp: – Thưa Ngài, mời Ngài đến đây mà xem! Và Đức Giêsu đã khóc. Người Do thái mới nói: – Xem kìa! Ngài thương mến ông ấy dường nào! Đến trước mồ, Ngài bảo hãy lăn hòn đá lấp cửa, nhưng Mat-ta cản lại: – Thưa Ngài, em tôi đã chôn 4 ngày, có mùi hôi rồi! Nhưng Đức Giêsu bảo bà: – Ta đã chẳng nói với bà rồi sao? Là nếu tin, bà sẽ thấy vinh quang của Thiên Chúa. Rồi quay vào mồ, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: – La-da-rô! Hãy ra ngoài! Người chết bước ra, chân tay còn lúng túng vì các giây vải, mặt còn bọc trong tấm khăn liệm. Đức Giêsu bảo họ: Hãy cởi ra cho ông ấy đi!* Đó là Lời Chúa! Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa! Suy niệm Lời Chúa Đọc đoạn Tin Mừng này, ai chẳng thấy ba chị em La-da-rô rất thương nhau. Khi đau ốm thì săn sóc hết lòng, chạy thuốc chạy thày, không được thì kêu mời Đức Giêsu đến chữa. La-da-rô chết thì chôn em mà lòng đau đớn, khóc lóc không ai an ủi cho nguôi được. Chỉ có một người mà hai chị em hi vọng nhất để cứu sống em mình, đó là Chúa Giêsu, thì Ngài lại không đến. Cho nên lúc gặp Ngài, cả hai chị em đều than khóc thảm thiết: “Nếu Thày có mặt đây, thì em chúng con đã không chết”. Ta có thể nói: Đức Giêsu đã làm phép lạ cho La-da-rô sống lại là để thưởng cho tình thương yêu giữa chị em của họ. Xem thế, tình thương anh em trong gia đình thật là một mối phúc, thật là một ân huệ, đến nỗi Thiên Chúa phải làm một phép lạ vĩ đại, để trả lại người em cho họ! Bài Lời Chúa kỳ trước đã đề cập đến các lợi ích và một vài bổn phận của tình anh em, chị em. Hôm nay, ta đi tiếp đến bổn phận thứ tư: 4/ Muốn chung sống giữa anh em với nhau cho hạnh phúc thì bổn phận thứ tư là yêu thương nhau thật tình. Đó là mỗi người hãy vui mừng vì thấy kẻ khác được may mắn, được thành công; hãy thực tình mong muốn sự lành cho họ, giúp họ nên tốt hơn và công chính, đạo đức như Chúa đòi hỏi và cầu nguyện cho họ… Các điều vừa nói, không phải tự nhiên là thích làm đâu! Cha mẹ phải tập cho đứa trẻ mới được. Nếu có những anh chị tốt, tử tế như gia đình La-da-rô, thì các việc nói trên rất dễ làm. Nhưng, gặp trường hợp anh chị em mình là những kẻ khó tính, ương ngạnh, ích kỷ: thật là khó vô cùng. Tuy nhiên, chính ở đây, bổn phận yêu thương càng cần thiết gấp bội. Phải coi như Thiên Chúa ký thác họ cho mình, để lo lắng và giúp đỡ cách đặc biệt, như những con bệnh mình phải chăm sóc cho đến khi lành. Thánh Phêrô có viết thư khuyên những người tôi tớ: “Anh em là gia nhân, thì hãy hết sức kính sợ, phục tùng chủ, không chỉ những chủ tốt lành, khoan dung mà thôi, song cả những con người ác nghiệt..Quả là một ơn sủng Chúa ban mà anh em phải chịu khổ bất công” (1Pr 2.18-20). Hãy áp dụng lời dạy các tôi tớ ấy vào hoàn cảnh anh em trong gia đình: mỗi người hãy coi như một ân sủng được phục vụ người anh em khó tính của mình. 5/ Tình thương nhau còn đòi phải có sự công bằng. Mỗi đứa con đều được quyền ăn mặc, học hành và các sự cần thiết như nhau, tuy được quyền sở thích và nguyện vọng riêng tuỳ tính tình, tuỳ khả năng, Chúng ta hẳn còn nhớ chuyện Kinh Thánh kỳ trước: chỉ vì ông Yacóp thương một đứa hơn, cho mặc áo đẹp và không bắt lao động như các anh, mà bị các anh ghét và oán thù, Cha mẹ nên lưu ý kẻo sự đối xử chênh lệch của mình sẽ là đầu mối gây bất hoà giữa các con cái. Nên nhớ: trẻ con rất nhạy bén khi thấy có sự đối xử không công bằng. Còn giữa anh chị em với nhau, cũng đừng dành quyền lợi hơn: ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn… Hãy nhớ Chúa Giêsu dạy: “Điều gì ngươi muốn được người ta làm cho mình, thì ngươi cũng hãy làm cho người ta như thế” (Mt 7.12). 6/ Tình thương lại phải tỏ ra bên ngoài bằng hành động: nào là thái độ cử chỉ dễ thương, không cứng cỏi, thô lỗ; nào là lời nói mềm mỏng, không có ý khinh bỉ, chọc giận, hay cố anh bêu xấu cho người khác chê cười. Lời ăn, tiếng nói phải lịch sự với nhau. Đừng vì thân mà suồng sã, thô bỉ. Có những đứa trẻ mở mồm nói thì y như cóc cắn, cộc lốc. Hãy tập nói những cầu thần chú sau đây: – Cám ơn, – Xin làm ơn giúp cho… – Nếu anh hoặc chị cho phép, em sẽ… – Xin lỗi… Mấy câu ấy làm hởi lòng, hởi dạ…, tình anh em thêm thắm thiết, vả lại cũng là những câu mà ai là người lịch sự đều dùng. 7/ Tình thương cũng còn biểu lộ qua đôi chút quà tặng, dù chỉ là một quả mận hái trong vườn, một trái me chua, một món đồ chơi ít tiền… Sau khi lỡ cãi nhau, biết đem mấy cục kẹo đến làm hoà. Còn phải biết mở mắt ra mà nhìn cái gì mình có thể làm cho anh chị em. Có nhiều người mù và cầm, chẳng bao giờ thấy anh chị em mình cần gì hoặc buồn khổ ra sao mà giúp đỡ hay nói một lời an ủi… Lại có những đứa gặp chuyện tranh chấp quyền lợi, hoặc trái tính, xung khắc, đã không biết ôn tồn phân xử, lại nghĩ rằng: cứ dùng đấm đá, la lối, chửi rủa là xong hết! Đó là cách xử trí của người mọi rợ! Chúng ta là người văn minh không đối xử như thế! Hơn nữa, chúng ta lại là con Chúa, nên phải tập từ tốn giãi bày quan điểm, biết nghe nhau, biết suy nghĩ, nhất là biết khiêm tốn nhận mình sai lỗi, hoặc mình không đúng, còn người kia có lý. Hiệu quả của tình thương giữa anh em ruột thịt: Trong gia đình sống thương yêu, sau này ra ngoài xã hội sẽ sống tốt và dễ thành công trong cuộc đời. Như vậy, gia đình là trường học căn bản về tình yêu đồng loại ngoài xã hội. Dưới ánh mặt trời ấm nóng của tình thương cha mẹ, ơn Chúa ban xuống linh hồn đứa trẻ khi chịu phép Rửa tội, sẽ như mầm non mọc lên, làm nảy nở các nhân đức yêu thương, hi sinh, xả kỷ, phục vụ. Cha mẹ sẽ lợi dụng mọi dịp để cho con cái thấy các vấn đề luân lý chúng đang thực hành trong gia đình, sau này sẽ phải thực hành ngoài xã hội. Chúng sẽ học biết: con người rất thiếu sót, cần có nhau để bổ túc cho thau. Không ai được phép là một hòn đảo riêng rẽ. Đừng chỉ lo cho quyền lợi riêng, còn phải biết để ý đến các quyền lợi và ước vọng của người khác, như lời Kinh Thánh dạy: “Mỗi người đừng chỉ lo mưu lợi riêng, còn phải nghĩ đến quyền lợi kẻ khác. Hãy xem gương của Đức Kitô đó kìa: Ngài có quyền giữ chức vị và quyền lợi ngang hàng với Thiên Chúa, ấy thế mà không, Ngài nhường lại hết, đành mang thân phận nghèo nàn, tôi đòi và hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết” (Ph 2.4-11). Không được tẩm nhiễm những ý thức phục vụ và xả kỷ, các con cái dễ đâm lệch lác, sống ích kỷ. Làm sao cho chúng hiểu có anh chị em ruột vây quanh mình là một ân huệ Chúa ban, hầu chúng được nên con người tốt, xứng đáng, làm vinh dự cho đời chúng. Được phục vụ người khác phải là một niềm hạnh phúc của con người, đúng như Chúa dạy: “Cho đi thì hạnh phúc hơn là lãnh nhận” (Cv 20.35). Cho chúng hiểu cái tai hoạ của đứa trẻ sống một mình, sẽ trở nên ích kỷ ghê sợ, không chơi với ai được, việc học hành của nó cũng sẽ chậm hơn, vì không có ai tranh đua, đời sống sau này của nó sẽ khó biết thông cảm với người khác, khó hoà đồng, khó sống với bà con, họ hàng, cộng đoàn và xã hội. Vào đời sống xã hội sau này, nó mới thấy khổ sở, vào đời chức nghiệp mới thấy thiệt thòi, vào đời sống vợ chồng sẽ dễ bị tan vỡ… Còn đứa trẻ nào biết sống tốt đẹp tình huynh đệ với anh chị em mình, sau này dễ trở nên người chồng, người vợ tốt, người cha, người mẹ tuyệt vời. Một điều nói thêm sau cùng là tình anh em ruột thịt phải kéo dài qua tuổi nhỏ cho đến suốt đời. Trong nhiều gia đình, tình anh em chấm dứt khi một người ra đi lập gia đình. Nơi phong tục Đông phương chúng ta, tình gia đình, họ hàng vốn bền lâu, mặn mà. Đó cũng là ưu điểm. Chúng ta sẽ không bỏ rơi người anh, người chị đã ra đi mà gặp thiếu thốn, đau buồn hay hoạn nạn, chúng ta biết chia vui sẻ buồn với họ, lúc họ gặp may mắn, thành công hay gặp rủi ro, thất bại… Kìa xem gương Đức Mẹ Maria: thân gái dặm trường đi bộ cả trăm cây số (lúc ấy làm gì đã có xe đò) để đến thăm bà E-li-sa-bet và chúc mừng bà sắp có con lúc tuổi già hiếm muộn. Sau đó, ở lại luôn ba bốn tháng để phục vụ bà ấy thai nghén nhọc mệt: nào Đức Mẹ quét nhà, thổi cơm, nấu nước, giặt giũ và nâng giấc bà ấy, cho đến ngày mẹ tròn con vuông rồi mới trở về nhà (Lc l.39-56). Tích truyện Người ta thuê một hoạ sĩ trứ danh đến vẽ một bức ảnh Thánh Phan-xi-cô khó khăn thật lớn, để trang hoàng Đền Thờ. Hôm hoạ sĩ bắt đầu, một tu sĩ dòng Phan-xi-cô đến dặn ông: – Xin lưu ý! Thánh Phan-xi-cô không có râu đâu! Ông phải vẽ cho đúng như vậy. – Vâng, tôi sẽ làm ngài vừa ý! Hôm sau, một tu sĩ cũng Phan-xi-cô, nhưng thuộc ngành Ca-pu-xi-nô, có thói tục để râu, đến dặn: – Hoạ sĩ nên nhớ Thánh Phan-xi-cô, cha chúng tôi, có râu đàng hoàng, phải vẽ cho đầy đủ! – Vâng, xin ngài cứ yên tâm! Thế là cuộc tranh chấp giữa việc có râu và không râu bùng nổ. Các anh em cùng một cha, song chia làm hai nhóm, cứ đến quấy rầy hoạ sĩ, làm ông điên đầu, không biết ngả theo phe ai. Sau cùng, ông nảy ra ý kiến: treo một bức màn che, ông ngồi sau bức màn ấy mà vẽ, kèm theo tấm bảng tuyên bố: “Ngày khánh thành mới được hạ màn và ai nấy sẽ thoả mãn”. Ngày khánh thành đến, anh em dòng hai phe và giáo dân trong vùng kéo nhau đến thật đông. Nghi lễ khai mạc bắt đầu, và sau bài diễn văn, màn từ từ hạ xuống, mọi người nín thở, hồi hộp… Trên khung ảnh, Thánh Phanxicô hiện ra, nằm dài, đang đau liệt, mình đắp chăn. Oái oăm thay! Chiếc khăn ấy lại kéo lên quá cằm, khiến chẳng ai biết ông tổ lập dòng của mình có râu hay không râu! Đúng là bên nào cũng được thoả mãn, nghĩ ngài có râu cũng được, không râu cũng được.

BÀI LỜI CHÚA 20 TÌNH HỌ HÀNG GIA TỘC

Trích Sách Tô-By-a, ch.5tt Ngày ấy, Ông Tô-bít sai con trai là Tô-by-a đến miền xa đòi nợ. Dù đường dài thăm thẳm, Tô-by-a và người bạn đường cũng tạt vào làng Ê-ba-tan để thăm ông bà Ra-ghen là chú thím. Bước vào sân, họ gặp ông Ra-ghen đang ngồi chơi, Tô-by-a cất tiếng chào. Hơi bỡ ngỡ, ông đáp lễ và dẫn hai người vào nhà. Ông nói với vợ là bà Eđ-na: – Cậu thanh niên này sao mà giống Tô-bít, anh tôi quá! Bà Eđ-na hỏi họ: – Anh em từ đâu đến? Họ đáp: – Chúng tôi là dòng họ Nep-ta-li, bị lưu đầy ở Ni-ni-vê. – Anh em có biết Tô-bít, người bà con của chúng tôi không? Tô-by-a nhanh nhảu nói: – Có chứ, chính ông ấy là cha của cháu! Nghe vậy, ông Ra-ghen vui mừng, tiến lại ôm lấy cậu, áp má vừa hôn, vừa khóc: – Xin Chúa chúc lành cho cháu. Ta là Ra-ghen, chú họ của cháu. Cháu là con của một người cha tốt lành, đức độ. Khốn nỗi, một người nhân nghĩa, hay làm việc lành và bố thí như vậy, mà lại bị mù loà. Ông Ra-ghen có cô con gái độc nhất, rất xinh đẹp và đảm đang – tên là Sa-ra – khi nàng nghe nói thế cũng vui mừng khóc lóc. Đoạn họ làm cơm thết đãi.

Thoạt thấy cô Sa-ra, Tô-by-a đã đem lòng quí mến. Đến sau, lại được biết nàng là gái chưa chồng. Chiếu theo luật Môi-sen, chàng là người bà con gần nhất có quyền cưới cô hơn ai khác. Chàng đâm ra yêu nàng và tâm hồn chàng gắn bó với nàng. Mới ngồi vào tiệc, Tô-by-a đã nhờ bạn ngỏ lời xin gả Sa-ra cho chàng. Ông Ra-ghen tươi cười đáp: – Cháu cứ ăn uống đi đã, ngoài cháu ra, không ai có quyền lấy Sa-ra, con của chú. Nhưng… Nói đến đây, ông ngập ngừng, vẻ mặt buồn bã… Tô-by-a hồi hộp chờ đợi. – Nói gần nói xa, chẳng qua nói thật. Chú đau lòng phải tỏ cho cháu biết là: trước khi cháu tới đây, chú thấy hai gia đình ta cách xa ngàn dặm, nên chú đành gả nó lần lượt đến 7 người chồng. Nhưng không hiểu sao, 7 người đều chết ngay đêm động phòng! Thôi, cháu cứ ăn uống đi… việc đâu còn đó, để Chúa sẽ xếp đặt mọi sự! – Cháu sẽ không ăn uống gì, bao lâu chú còn trù trừ về việc của cháu! Ra-ghen mím môi đáp, sau một lúc suy nghĩ: – Thôi được! Chiếu theo phán quyết của luật Môi-sen, ta ban nó cho cháu đó. ý Chúa muốn như vậy. Cầu Chúa trên trời ban cho hai con mọi bề xuôi thuận đêm nay, và đổ xuống cho hai con lòng thương xót và bình an. Gọi nàng Sa-ra lại, ông cầm tay nàng đặt vào tay Tô-by-a. Ông gọi vợ lấy giấy viết tờ hôn thú. Đâu vào đấy, họ bắt đầu ăn tiệc. Chiều tối, Tô-by-a vào phòng, nhớ lời dặn của người dẫn đường chính là thiên thần Ra-pha-en – chàng lấy gan và tim con cá bắt được ở sông lúc đi dọc đường, đặt lên lò than đốt cho khói xông lên, xua đuổi tà ma đã khuấy khuất Sa-ra và giết 7 chồng trước của cô, làm chúng phải chạy trốn. Thiên thần Ra-pha-en đuổi theo bắt trói lại (8.1-3). Lúc ấy, chàng mời Sa-ra cùng quì gối cầu nguyện, xin Thiên Chúa thương xót và phù hộ cho hai vợ chồng được an toàn, hạnh phúc đến tuổi già. Cùng lúc đó, ông bà Ra-ghen cũng lén chỗi dậy, gọi gia nhân đi đào huyệt sẵn. Ông nói: – Mong sao nó đừng bị giết như 7 chàng rể trước, không thì ta thành bia cho người đời mai mỉa. Rồi ông bảo bà sai tớ gái lén ngó vào phòng xem chàng rể còn sống không, rủi chết thì đem chôn ngay đêm ấy, đừng để ai biết. Đứa tớ gái lén ngó vào phòng, thấy cặp vợ chồng đang ngủ ngon giấc an lành bên nhau. Được biết vậy, ông bà cất tiếng chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa. Hôm sau, ông vui mừng mở tiệc lớn suốt hai tuần lễ. * Đó là Lời Chúa? – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Qua câu chuyện Kinh Thánh vừa kể, được thấy rõ tình họ hàng thân thiết gắn bó nhau, Hai gia đình ông Tô-bít và Ra-ghen, tuy người bị lưu đầy sang xứ lạ, kẻ được thong dong nơi quê nhà, nhưng hằng thương nhớ nhau. Dù đường sá xa xôi, nhưng nghĩ tình họ hàng, cậu Tôbya cũng cố gắng rẽ vào thăm hỏi, và biết đâu! Để thưởng cho lòng thảo kính đó, Thiên Chúa đã ban cho chàng một món quà quí báu: cô Sa-ra xinh đẹp và đảm đang làm vợ chàng. Luật Môsê thời ấy làm cho tình họ hàng thêm chặt: anh em họ phải lấy nhau để giữ được dòng giống, giữ lấy đức tin cho con cháu và bảo vệ tài sản khỏi lọt vào tay người ngoài. 1/ Nhìn vào xã hội các tổ phụ thời ấy – mà Kinh Thánh cho ta biết – con cái không chỉ sống với cha mẹ, mà còn cả với ông bà, chú bác, cô dì… Lòng trọng kính, tình thương mến của chúng phải vượt quá giới hạn hẹp hòi của gia đình, mà đi tới cả họ hàng, bà con. Chúng phải tập ngay từ nhỏ biết chào hỏi người trong họ hàng cách lễ phép, biết đi thăm viếng họ, chia vui sẻ buồn, dự các dịp lễ hoặc mừng kỷ niệm, biết báo tin cho những bà con ở xa, biết giúp đỡ những người trong hoàn cảnh nghèo khó, hoạn nạn, nhất là những người già cả, đau ốm…

2/ Trong hoàn cảnh sinh sống của ta hiện thời, sự liên lạc và đoàn kết trở nên rất khó khăn: nào chiến tranh loạn lạc, hoặc do hậu quả của chiến tranh, bà con, họ hàng mỗi người đi mỗi nơi làm ăn, lập nghiệp, rồi đường sá, tàu bè khó khăn: đời sống đắt đỏ, kinh tế eo hẹp: trừ một số nhỏ làm ăn có tiền của, còn đa số chật vật kiếm cơm hàng ngày, không còn thời giờ nhàn rỗi: tất cả những khó khăn kinh tế và vật chất ấy làm cho người ta ngại đến thăm viếng nhau, sợ gây gánh nặng cho nhau, và cứ thế, tình gia tộc càng ngày càng lợt lạt dần. Do đó, tình thân thiết với họ hàng của mỗi gia đình có thay đổi: tại gia đình này, người ta chỉ nói đến họ hàng cách khinh bỉ; còn tại gia đình kia, họ hàng được quí trọng, biểu dương, như gương mẫu đức hạnh hay gương thành công trên đường đời, làm cả họ thơm lây. Tại nơi này, trẻ con thấy họ hàng đôi bên kình địch nhau; tại nơi khác, trẻ con lại được thấy dẫn giải một lòng tôn trọng, quí mến và săn sóc ông bà nơi, ngoại… Có nơi, con cái thấy ông bà bị đối xử cách lạnh nhạt, vô tình, thậm chí mắng nhiếc tàn tệ… Vậy ta hãy tìm xem Chúa muốn sao? 3/ Thiên Chúa đã muốn ta sinh ra không chỉ có cha, có mẹ, mà còn có họ hàng, chú bác, cô dì, ông bà nội ngoại, anh em thúc bá, vv… Ta bắt rễ vào trong gia đình, mà rễ còn ăn lan xa và sâu vào cả họ hàng, tông tộc. Nói không ngoa, cả tông tộc nuôi dưỡng và hun đúc ta thành người. Ta không thể bỏ qua, mạnh ai nấy sống, không đếm kể gì đến dòng dõi, tông tộc: họ có ảnh hưởng đến số phận đời ta, trên bản ngã và cá tính của ta. Vì thế, tục ngữ xưa nay có câu: “Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh” – “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống” Kinh Thánh nói rằng: vị vua anh minh, xuất từ dòng dõi Đavít – có ý nói về Chúa Cứu Thế – sẽ là vị vua được hun đúc bằng mọi đức tính của các tổ tiên: Thần Khí khôn ngoan và trí tuệ như Salômôn, thần khí mưu lược và anh dũng như Đavít, thần khí đạo đức và kính sợ Thiên Chúa như các tổ phụ, các tiên tri… (x. Ys 11.1-5). Cho nên, cha mẹ và các nhà giáo dục phải chấn hưng lại tình gia tộc vun trồng liên hệ họ hàng bằng lời nói, hành động, khi có cơ hội: dạy vẽ cho con cái biết giữ những liên lạc tốt đẹp với họ hàng: lòng yêu thương, sự kính trọng, tình thân ái, sự tương trợ, sự tín nhiệm vào nhau, giúp đỡ nhau trong lúc khốn khó, lúc hoạn nạn, ốm đau, trong những dịp vui buồn, tang chế, cưới hỏi, sinh đẻ, biết đi lại thăm viếng, chia vui sẻ buồn, như Đức Mẹ đi thăm bà Ê-li-sa-bet, đang mang thai lúc tuổi già mệt nhọc… (Lc 1.39tt). Xin đề nghị: Một trong những dịp tốt để vun quén anh thân ái trong gia tộc là ngày lễ giỗ. Mỗi năm một lần, cả gia tộc họp về nhà của tộc trưởng: trước hết, cùng chung dự Thánh Lễ giỗ tại nhà thờ, sau đó về nhà, tất cả dự bữa cỗ để chung niềm vui sum họp: biết bao tin tức vui buồn, lúc ấy người ta kể cho nhau nghe… Các con cháu nhỏ được nhận mặt chú bác, cô dì và anh em họ hàng…, chúng sẽ nhận thấy chúng là thành phần của một tập thể mạnh mẽ, lớn rộng…, hẳn chúng được hãnh diện và cảm thấy được bảo vệ, che chở… Uy tín của cả một gia tộc như thế, có ảnh hưởng rất lớn trên cách ăn ở của chung. Tục ngữ có câu: “Sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì” – cha mất đi, mẹ goá, nhiều khi dạy bảo con không được, thì nhờ có chú bác, cô dì bảo ban, khuyên lơn, chúng sẽ kính nể mà vâng nghe… Buổi lễ giỗ ấy cũng là lúc mà nếu có vấn đề gì trong gia tộc, người ta sẽ đem ra bàn bạc và giải quyết. Người công giáo thường bị người lương chê là theo đạo bỏ ông bà, bỏ tổ tiên, lơ là với gia tộc. Thực ra, ta không đáng bị chê trách như thế, song xét kỹ, cũng có phần nào đúng. Ta cứ lấy nê đã xin lễ riêng cầu cho linh hồn ông bà, cha mẹ và các tiên nhân, hoặc hàng ngày vẫn cầu nguyện cho linh hồn các ngài…, để mà gạt bỏ những tập quán, những tục lệ tốt đẹp bên ngoài – tỉ như cuộc lễ giỗ tại nhà trưởng tộc nói trên – rất cần thiết để nuôi dưỡng anh thân ái trong gia tộc; vì bên trong cần biểu lộ ra bên ngoài, bên ngoài cần nâng đỡ bởi tâm tình bên trong, cả hai bổ túc cho nhau; bởi chúng ta vừa là tinh thần mà lại vừa có thể xác: hữu ư trung, xuất hình ư ngoại! Đạo công giáo cần phải trở về những tục lệ tốt của dân tộc. (Xin giới thiệu cuốn “Người Công giáo VN với đạo hiếu” của Linh mục Trần Hữu Thanh). Chiều nay, làm giờ đền tạ này, gia đình chúng ta xin Chúa tha thứ các lỗi phạm đến tinh thần gia tộc, để nhờ Lời Chúa, ta ý thức hơn, từ nay sẽ chỉnh đốn cho hợp với ý Chúa. Tích truyện (Trích hồi ký của một linh mục) Hồi ấy, tôi còn nhỏ, chừng 11 tuổi; như mọi đứa trẻ khác, tôi rất mong Tết đến. Tết thì được mặc áo mới, được mừng tuổi, những đồng xu mới vàng óng, đẹp ghê đi! Có tiền là mua pháo đốt chơi: nào pháo đùng, pháo giây, pháo chuột, pháo tép, pháo xiết… Châm ngòi, rối tung pháo vào giữa tụi con gái, làm chúng bịt tai vừa chạy, vừa la, thú thật! Tết còn được ăn cỗ: những bữa cỗ ngon lành, đủ thứ của ngon vật lạ ngày thường ít thấy…, rồi được ăn bánh chưng xanh, ăn giò thủ… ông tôi lại thường hay chế rượu mùi: rượu đào, rượu cúc…, uống vào ngọt lừ, thơm phức mà không say. Tết còn là dịp về quê ngoại thăm họ hàng. Trên con đường vào làng, khí trời côn lạnh, thường khi có mưa phùn bay lất phất; nhưng khi vào đến nhà, thật là ấm áp: những cầu chào nhau và chúc mừng năm mới tíu tít, vang lên ấm cả lòng. Các cháu nhỏ như tôi được xoa đầu, mừng tuổi dăm ba xu “cho cháu ăn quà, chóng lớn, học hành thi đỗ…” Nhưng trong dịp đầu Xuân, cái làm tôi nhớ không bao giờ quên, tuy đã hơn 40 năm rồi, đó là cứ mùng một, tại nhà ba mẹ tôi – ba tôi là trưởng tộc – tất cả các cô bác, chú dì anh em, họ hàng đều từ khắp nơi đổ về. Sau Thánh Lễ chung ở nhà thờ xứ, về đến nhà, trước hết, là thắp đèn nến bàn thờ lên, cả gia tộc cùng nhau đọc kinh thờ lạy Chúa và kính Đức Mẹ, dâng cả năm mới cho Chúa và xin Chúa chúc lành, ban ơn phù hộ. Ông bà tôi – các cụ lúc ấy khoảng hơn 60 – ngồi trên ghế ngựa kê trước bàn thờ, chung quanh là cha mẹ, chú bác, cô dì, tất cả đều hướng về bàn thờ. Tôi còn nhỏ, nên đọc kinh thì ít, mà lo ra thì nhiều… Có lúc nhìn lên bàn thờ đèn nến sáng trưng, ảnh Chúa thật uy nghi mà nhân từ, cạnh bàn thờ là hai chậu quất và hai chậu cúc vàng… Nhìn đến mẹ tôi, thấy bà đang đọc kinh lớn tiếng, mắt đăm đăm hướng về bàn thờ: mẹ tôi có vẻ sùng kính lạ thường, có lúc không biết vì tưởng nhớ chuyện gì buồn, mẹ tôi lại ràn rụa nước mắt… Kinh nguyện xong xuôi, cả gia tộc mời ông bà ngồi xuống hai chiếc ghế gụ, có đệm bông, rồi xúm lại chúc tết. Anh cả tôi, là cháu đích tôn, đại diện cả gia tộc đọc bài chúc tết anh đã hì hục dọn cả tuần lễ trước. Dứt bài: đốt pháo nổ vang. Xong đến ba mẹ, cô chú, thím dì đến chúc mừng ông bà. Khi đến phiên chúng tôi, được ông bà và ba mẹ cùng cả họ hàng mừng tuổi bằng những đồng tiền mới… Thế rồi, đang khi đợi đến trưa ăn cỗ, chúng tôi chạy ra sân hoặc ra phố chơi, đốt pháo, hoặc ở trong nhà rủ nhau rút bất, đánh tam cúc… Thật là êm đềm! Tưởng nhớ lại kỷ niệm xưa, mà lòng còn bùi ngùi nhớ tiếc… tình gia tộc thật là đậm đà! Chúng tôi được hun đúc trong tình gia tộc ấy. Lên lên, mỗi người mỗi phương trời, còn tôi được ơn gọi làm linh mục, nhưng tình tự gia tộc không bao giờ phai. Nó là sức nâng đỡ cho tôi trong cuộc đời, là niềm an ủi cho tôi lúc buồn khổ. Đến nay, đã hơn 40 năm, những khuôn mặt thân ái ấy vẫn còn phảng phất trong trí nhớ, ấp ủ trong trái tim tôi: trong số đó, có người còn sống, có người đã ra đi, có người đã nằm xuống yên giấc ngàn thu. Nhưng với niềm hi vọng sống lại mà Chúa Kitô phục sinh ban cho, chúng tôi mong sau này chắc chắn sẽ được sum họp lại với nhau trên Nước Hằng Sống, nơi mùa Xuân sẽ không bao giờ tàn

BÀI LỜI CHÚA 21 TÌNH BẠN

Lược trích 1 Sa-mu-en 18.1-3; 19.1-7; 20.1-42; 2S 1.17-27 Yô-na-tan là con vua Sa-un. Hôm ấy, sau khi Đa-vít dùng chiếc ná bắn hạ được tên Gô-li-át khổng lồ trở về, cầm nơi tay thủ cấp nó mà ra mắt vua, thì Yô-na-tan sinh lòng ngưỡng mộ Đa-vít. Kinh Thánh tả: xảy ra khi Đa-vít vừa trình diện với Vua Sa-un, thì hồn Yô-na-tan đã gắn bó keo sơn với hồn Đa-vít, và Yô-na-tan đã yêu mến cậu như chính mình. Để bảo đảm tình bạn của mình, Yô-na-tan cởi áo choàng, cởi thanh gươm báu, cả chiếc cung và áo giáp mà trao tặng Đa-vít. Ngược lại, Vua cha Sa-un lại có lòng ghen ghét Đa-vít, vì thấy Đa-vít giỏi, thành công, được dân chúng ca tụng và mến phục, nên Vua lo sợ cho ngai vàng của ông. Ông nhất định tìm cách giết Đa-vít. Một bên là tình cha con, một bên là tình bạn hữu, Yô-na-tan rất khổ tâm, không biết làm sao. Bao lần, chàng tìm cách biện hộ cho Đa-vít: – Xin Phụ Vương chớ mang tội giết Đa-vít, vì anh không làm gì xúc phạm đến Phụ Vương cả, trái lại, các điều anh làm đều có lợi cho Phụ Vương. Tại sao Phụ Vương đành mang lấy vạ đổ máu người vô tội vô cớ? Có lần Yô-na-tan còn liều mất mạng để cứu Đa-vít, vì anh coi mạng Đa-vít như mạng mình. Lần kia, tại bàn tiệc của Vua, thấy Đa-vít vắng mặt, Vua Sa-un hỏi tại sao. Yô-na-tan thưa: – Đa-vít đã khẩn khoản xin con cho anh đi Bê-lem, đề dự tế lễ của cả thị tộc, vì thế, anh đã không đến dự tiệc cùng Phụ vương được. Kỳ thực, Đa-vít trốn đi vì biết dự tiệc lẩn này là sẽ bị Vua giết. Vua đoán được là con mình giúp Đa-vít trốn đi, ông nổi giận la lớn: – Con của đồ đĩ hư thân! Tao lại không biết là mày đã cặp kè với thằng Đa-vít sao? Mày hãy nhớ: bao lâu nó còn sống, ắt cả mày, cả ngai vàng của tao sẽ không vững đâu! Đi điệu nó về đây, nó đáng bị xử tử! Yô-na-tan đáp: – Tại sao anh ấy phải chết? Anh ấy đã làm gì đáng tội? Thay vì trả lời, Vua vung giáo đánh chàng. Chàng tránh ngọn giáo và rời bàn tiệc mà đi, bừng bừng tức tối. Chàng biết ý Cha quyết định giết Đa-vít, liền chạy đi báo Đa-vít trốn xa… Gặp Đa-vít, hai người ôm nhau mà khóc…, rồi vĩnh biệt nhau… Từ đó cho đến khi chết, hai người bạn không bao giờ còn được thấy nhau. Thế là hết rồi những ngày vui sướng, chuyện trò bên nhau, cưỡi ngựa, bắn cung, đấu kiếm bên nhau. Xa nhau, nhưng không bao giờ quên nhau, cho đến cái ngày ác nghiệt, Vua Sa-un và Yô-na-tan tử trận trên núi Ghi-bô-a. Được tin sét đánh, Đa-vít đau đớn, sầu muộn không nguôi. Ông đã làm bài ai ca não nùng và dạy cho toàn dân than khóc người bạn chí thân của mình. Trong bài ấy, có mấy câu này: “Hỡi con cái Israen, hãy khóc than Sa-un và Yô-na-tan đáng mến, đáng yêu… Núi non Ghi-bô-a, chớ gì từ nay sương móc, mưa nguồn và phì nhiêu đừng xuống trên ngươi nữa, vì ở đó máu anh hùng đã đổ ra… Yô-na-tan hỡi, tôi đau lòng đứt ruột vì anh, và thương nhớ anh vô vàn… Tình anh đối với tôi thật còn thiết tha hơn tình nhi nữ”.* Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Người lớn chúng ta, không chắc có mấy ai hiểu cặn kẽ tình bằng hữu chân thật là thế nào, huống chi các thanh thiếu niên, đa số lẫn lộn tình bạn bè, tình đồng chí với tình bạn hữu. Bạn bè và bạn hữu là hai tiếng giống nhau, song thực sự là hai chuyện khác nhau. Cái mà người ta gọi là bạn hữu, kỳ thực chỉ là bạn bè, đàn đúm. Ngay từ nhỏ, trẻ con đã họp nhau lại để nô đùa, rồi lớn lên có những bè bạn để chơi, bè bạn đi học, bè bạn cùng sở, bè bạn thể thao, vv… 1/ Chung chung, đó là một nhóm nhỏ có cùng một sở thích, tỉ dụ thích xem đá bóng Mêhicô 86, thích đánh cờ tướng…, hoặc cùng đeo đuổi một quyền lợi: cùng làm chung Hợp tác xã, sát cánh để đưa HTX tiến lên, hoặc cùng chung trải qua nhiều biến cố, nhiều cuộc vui: như cùng dự trại hè, đi làm thuỷ lợi, đi nông trường, cùng đi buôn bán… Nói tóm, các giây liên hệ ấy không mấy sâu sắc và không lâu bền. Ấy là chưa kể có những thứ bạn bè, đàn đúm, tụ họp nhau để làm bạn nhậu, bạn chơi bời, vv…, lúc có tiền bao ăn, bao nhậu, thì thấy mặt vui vẻ, đùa giỡn, lúc mình đau ốm, hay cạn túi lại chẳng thấy đứa nào, cuối cùng bám vào cha mẹ, hoặc vợ con. Kinh Thánh nói: đó là tình bạn giả dối. “Bạn nào là bạn một thời hay nhân dịp, thì lúc bĩ cực, nó không còn bền vững… Nếu chỉ là bạn rượu chè, vào ngày tai hoạ, không tìm thấy nó đâu! Con được thịnh vượng, nó như bóng với hình với con, khi con gặp hoạn nạn, nó liền trở mặt lánh xa” (Hc 6.7- 12). Vậy phải chọn bạn chân thật, tốt lành mà chơi, kẻo bạn xấu sẽ làm hư mình đi. Một câu cách ngôn Ả rập nói: “Buổi sáng, anh đi chơi với hắn, Buổi chiều, anh giống hắn mất rồi”. Nói như vậy, không phải bảo bỏ hết bạn bè, song là tránh bạn bè xấu. Đang khi chờ tìm được người bạn tốt giữa muôn người, ta cũng phải nhận định là bạn bè bình thường, không xấu, cũng có một vai trò làm phát triển nhân cách và đức tính xã hội nơi mỗi người, cách riêng nơi thanh thiếu niên, vì con người sinh ra không sống cô độc, phải nhờ lẫn nhau mới phát triển. 2/ Nói sơ về lịch trình tiến triển của tình bạn hữu: Thường thì bắt đầu từ tuổi 14-16, tuổi dậy thì, khi tâm hồn các em thiếu niên nam, nữ thấy khát vọng một lý tưởng cao hơn, muốn gặp và bắt chước người nào chúng ngưỡng mộ, khâm phục… Tuổi ấy, ta thấy chúng thích ra ngoài, không còn thích chơi với anh chị em trong gia đình nữa, để tìm bạn, làm thành từng nhóm, từng băng… Nhưng chỉ khi nào con người hiểu biết mình rõ ràng và tập được tính làm chủ chính mình, lúc đó, họ mới đủ khả năng trở nên một người bạn chân thật và sâu sắc, và mới biết chọn một bạn hữu chân thật. Những điểm làm thành người bạn tốt là điểm gì? Xin nói đại khái: bạn hữu thật thì tôn trọng nhau, cùng nhau sống những kinh nghiệm của cuộc đời, đang khi ấy, người nọ khuyên bảo người kia những điều hay, điều tốt, trao đổi ý kiến với nhau, cũng như biết sửa lỗi và khuyết điểm cho nhau. Ai nghĩ mình chỉ muốn tìm một người bạn không có tính xấu và khuyết điểm nào, người ấy không bao giờ có bạn. Đàng khác, tình bạn mà không bao giờ giúp sửa lỗi cho nhau, không phải là tình bạn chân thật. “Hãy coi chừng bạn nào chỉ yêu tính xấu của con”, đó là lời khuyên của một người xưa. Như thế, hai người bạn trợ giúp nhau, bổ túc cho nhau, giúp nhau nên tốt hơn, vì trên con đường lành, hai người thì sẽ dễ đứng vững hơn một người lẻ loi. Nhất là trên con đường đi đến Chúa, thật là một an ủi và khích lệ lớn, nếu có một người bạn bên cạnh mình để chia sẻ, tâm sự mà thường mình không nói cho ai, ngay cả cha mẹ, rồi để cầu nguyện cho nhau, và nếu có ai lỡ xảy chân, người kia sẽ nâng đỡ dậy, hoặc đưa bạn trở về, chứ không khinh dể hay xa lánh. Như thế mới gọi là gắn bó với bạn trong hết mọi mặt và với tất cả tâm hồn mình như tình bạn giữa Yônatan và Đavít. Tình bạn như thế sẽ bền vững mãi, lúc thịnh vượng cũng như lúc suy, lúc vui cũng như lúc buồn. Tóm lại, tình bằng hữu chân thật là: – Sự tận tuỵ trong yêu mến, – Trao đổi và giúp đỡ nhau mặt tinh thần cũng như vật chất, tư tưởng cũng như tình cảm, để càng ngày càng có một sự đồng điệu sâu sắc hơn trong tâm tưởng cũng như ý muốn. Kinh Thánh ca ngợi anh bạn như thế: “Ai gặp được người bạn trung tín, như gặp được một kho tàng, một điều vô giá! Ai kính sợ Thiên Chúa sẽ gặp được. Vì ai kính sợ Thiên Chúa sẽ là người bạn tốt, vì ta thế nào, ta sẽ có người bạn như thế” (Hc 6.14-17). 3/ Chúa Kitô là một người bạn chân tình. Ngài đã nói: Thày không coi chúng con như tôi tớ, nhưng là bạn, vì mọi điều Thày nghe nơi Cha, Thày tỏ cho chúng con hết”. Tôi tớ đâu có được đối đãi như thế. Chính Chúa Kitô cũng có bạn. Ngoài các tông đồ, nào La-da-rô, nào Mat-ta, Maria mà Ngài thường đến nghỉ chân sau những tháng đi giảng xa xôi, mệt nhọc. Lúc Ngài sắp bước vào đường thương khó, Ngài cần bạn yên ủi, nâng đỡ: “Hồn Thày buồn sầu đến chết được, hãy canh thức với Thày…”. Thấy Phêrô ngủ li bì, Ngài than trách: “Phêrô bạn ơi! Sao không thức với Thày được một giờ ư?”. Và cuối cùng, Ngài hi sinh mình để cho bạn sống và hạnh phúc: “Không có tình yêu nào lớn hơn kẻ hi sinh mạng sống vì người mình yêu mến”. Tích truyện “Bấc” chỉ là một con chó, nhưng một con chó to lớn lạ lùng và khôn không thể nói hết được. Nó cân nặng tới 63kg. Người chủ cũ, anh Hân, bắt nó kéo xe trượt tuyết chung với đàn chó 13 con khác đến nỗi nó kiệt quệ, ốm o liệt bại, chỉ còn da bọc xương. Thực ra, Hân cũng không cố ý tàn nhẫn, song anh ở trong thế kẹt, bắt buộc phải ác để cứu lấy mạng mình. Vì lúc ấy xe trượt tuyết của anh đang trên đường đi lên miền Bắc nước Mỹ, nơi đồn là có vàng, nơi toàn là đồng tuyết và băng giá mênh mông vô tận, khí hậu lạnh dưới 50 độ âm. Bấc có linh tính lạ lùng, nó anh cảm chuyến đi lần này là mặt băng sẽ vỡ, cả xe lẫn người sẽ tụt xuống hồ nước ngầm ở dưới chết hết. Bấc nằm rụi, không chịu đi. Hân quất roi da, dùi cui túi bụi, tàn nhẫn, chết bỏ. Xót xa, Anh Thóc Tân thấy vậy, giận run lên, không thể kìm chế nổi, anh thốt lên bằng giọng tắc nghẹn: – Nếu mày còn đánh con chó, tao sẽ giết mày! Rồi anh ôm lấy nó. Bấc đã gần chết, Hân nghĩ vậy, bỏ đi cũng chẳng tiếc. Khi chiếc xe của Hân đã bỏ đi xa, Thóc Tân quì xuống bên Bấc, đưa đôi tay âu yếm dò dẫm xem có chỗ nào bị gãy xương không. May thay! Chỉ toàn thương tích tím bầm và tình trạng đói ăn suy nhược khủng khiếp. Dần dần, được. Thóc Tân nuôi hồi sức, Bấc khoẻ lại như trước. Từ đó nảy sinh trong Bấc một tình thương đối với con người, tình thương lạ lùng, sôi nổi, nồng cháy như chưa hề có con chó nào thương chủ như vậy, có thể nói đây là một sự tôn thờ. Anh Thóc Tân đã là người cứu sống nó; hơn nữa, lại là người chủ lý tưởng, giữa hai bên như thể có một thứ anh bạn, nếu có thể nói được như thế. Anh săn sóc nó như con mình. Mỗi sáng, anh không quên chào nó bằng một cử chỉ thân ái, hoặc một lời vui vẻ; ngồi xuống nói chuyện lâu với nó, mà anh gọi là chuyện tầm phào, làm cho cả hai đều thích thú. Anh có thói quen túm chặt lấy đầu nó, rồi dựa đầu anh vào đầu nó, hoặc lắc nó đảo qua đảo lại, vừa thốt lên những tiếng rủa, mà đối với Bấc lại là những lời nói nựng âu yếm. Khi được buông ra, nó bật đứng thẳng, miệng như cười, mắt long lanh hùng hồn diễn tả, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời, chỉ còn thiếu cái biết nói. Bấc biểu lộ tình thương bằng những cái cắn nhẹ, nhưng ép mạnh hằn vào da thịt. Nhất là tình thương của Bấc được diễn tả bằng sự tôn thờ: nó nằm phục hằng giờ dưới chân chủ, ngước mắt nhìn chủ, theo dõi từng cử chỉ, đôi mắt toả tình cảm từ đáy lòng. Có lần, Bấc liều chết đế cứu Thóc Tân đang bị thác cuốn. Nó cố sức bơi trên mặt thác gập ghềnh, nước chảy xiết, sóng đập nó vào ghềnh đá toạc mình mẩy; cuối cùng, nó đem được cho Thóc Tân đầu sợi dây thừng ngậm ở mõm, nhờ đó bạn bè kéo anh vào bờ. Lần khác, một tên vô lại nhậu say, giáng một quả đấm vào mặt Thóc Tân. Bỗng từ góc phòng, một tiếng sủa vang lên, đúng hơn một tiếng gầm, và người ta thấy Bấc từ nền nhà bay lên, lao vút qua không trung, nhắm thẳng cổ họng tên kia mà lao tới, đè hắn lăn ra sàn, xé toạc cuống họng hắn. Một con chó mà còn có tình nghĩa đến như vậy! Truyện còn dài, không kể hết được, xin xem trong cuốn “Tiếng gọi nơi hoang dã” của văn sĩ Giắc Lân-đân, Hà Nội xuất bản 1985.

See also  Cho thuê đất 99 năm: 'Quốc hội đang lắng nghe từng tiếng dân'

BÀI LỜI CHÚA 22 ĐIỀU RĂN THỨ NĂM: CHỚ GIẾT NGƯỜI

Trích sách Thẩm phán, ch.9 A-bi-mê-lếch là con ông Ghê-đê-ôn, vị Thẩm phán lừng danh của dân Israen, từng đánh thắng quân Ma-đi-an, song cậu chỉ là con sinh ra bởi một tỳ thiếp người Si-kem, trong số 71 người con của ông Ghê-đê-ôn, nhưng A-bi-mê-lếch lại đầy tham vọng. Sau khi cha chết, cậu muốn đoạt ngai vàng mà khi sống, người cha đã từ khước không thuận. Để thực hiện mưu đồ, A-bi-mê-lếch về quê mẹ, nhô họ hàng thân thích bên ngoại cung cấp tiền nong, để mua chuộc những đứa lưu manh côn đồ. Kết bè kết đảng đã đông. hắn cùng đồng bọn lập mưu bắt tất cả 70 anh em rồi giết hết, chỉ từ có Yô-tam, em út, nhờ ẩn mình nên thoát chết. A-bi-mê-lếch thành công khiến các thân sĩ, kỳ hào và dân thành tôn hắn tên làm vua. Nghe tin ấy, Yô-tam lên núi Ga-ri-dim, bắn tin về cho dân Si-kem rằng: – Xin các vị vương công nghe ngụ ngôn của tôi để hòng cứu mạng. Một hôm, cây cối trong rừng kéo nhau đi tấn phong một kẻ làm vua trên chúng. Chúng hỏi từ cây liu, cây vả, cây nho, là các cây có quả hữu ích, ngon ngọt; thì các cây này đều từ chối, để bảo tồn những hoa quả quí báu trời phú cho chúng. Rốt cùng, chúng đành hỏi đến bụi gai, là cây vô dụng, không có quả, không có gỗ, không cho bóng mát, chỉ tổ gieo vạ; thì bụi gai bằng lòng làm Vua. Nó bèn ra một điều kiện để thử lòng các cây cối: “Các anh phải đến nấp dưới bóng tôi, phục tùng tôi, nếu không, lửa sẽ từ bụi gai tôi bắt cháy cả rừng”. Nói ngụ ngôn xong, Yô-tam kêu lớn: – Các vị vương công hãy xét xem: các ông đã giúp một đứa vô loại giết 70 anh em tôi, lại tôn nó lên làm vua. Phải chăng các ông đã đền công ơn cha tôi liều mạng đánh quân Ma-đi-an để giải thoát các ông như thế sao? Coi chừng! Lửa giận của tên vô loài ấy sẽ phát ra thiêu chết các ông làm một với chính nó! Nói xong, Yô-tam lẩn đi trốn. Ba năm sau, lời tiên báo đã ứng nghiệm. A-bi-mê-lếch và các thân sĩ, kỳ hào Si-kem xích mích rồi phản nhau. Hắn bị đuổi ra khỏi lâu đài. Tức giận, hắn thu họp bè đảng đến phá thành, tàn sát dân chúng. Các vương công và một số tổng cộng hơn ngàn người chạy trốn vào cái miếu thờ thần Ba-an. Hắn bèn chất lửa đốt thiêu tất cả. Đến lượt hắn, đang khi đánh phá một tháp kiên cố và muốn phóng hoả, thì một người đàn bà, từ trên tháp ném một cối đá xuống đầu hắn làm hắn vỡ sọ. Hắn vội vàng gọi tên hầu: – Tuốt gươm mà giết tao đi, kẻo thiên hạ nói về tao: một đứa đàn bà đã giết nó. Vậy tên hầu đã đâm hắn chết. Thế là tên độc ác đã chết: hắn bắt đầu bằng cuộc sát huynh, tiếp tục bằng cuộc sát nhân, kết liễu bằng việc tự sát. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Điều răn thứ năm dạy: chớ giết người. Truyện Kinh Thánh hôm nay cho ta thấy một kẻ giết người không ghê tay: anh em ruột thịt hắn giết, đồng bào đồng hương hắn cũng giết, cuối cùng, chính hắn tự giết mình. Tội ác của hắn, chúng ta tất cả đây chắc chẳng ai dám phạm. Vậy cái gì đáng cho ta học ở bài này? Đó là: tại sao hắn giết người ghê gớm như thế? Thưa: tại hắn không được hiểu về giá trị của mạng sống con người, của sự sống thể xác quí trọng dường nào! Khi người ta biết được một vật nào quí giá, người ta sẽ thận trọng gìn giữ và bảo vệ nó. Như vậy điều răn: chớ giết người, tức là Chúa dạy hãy tôn trọng mạng sống, sự sống thể xác của con người, của mọi người, cũng như của chính mình. Điều đó, ta cần học hiểu. Giáo huấn ấy được tóm tắt như sau: Thứ nhất: Thiên Chúa đã dựng nên thân xác ta vì lòng yêu thương nhân từ, đã uốn nắn và tổ chức nó một cách tuyệt diệu, và phú linh hồn nào cho nó được sống với tư cách là một con người. Thứ hai: Thế rồi, trong Phép Rửa tội, Chúa Thánh Thần đến thánh hoá thân thể ta và dùng làm Đền Thờ Ngài ngự. Thứ ba: Ngày tận thế, Chúa sẽ cho xác ta sống lại vinh hiển và hợp với hồn mà sống mãi đời đời hạnh phúc với Chúa và các thần thánh. Thật là giáo lý tốt đẹp, cao siêu! Chưa từng có một triết học nào, một đạo nào đạt tới. Ta hãy lấy làm vinh dự. Nhưng nhất là đó không phải là một mớ tư tưởng suông, không tưởng, nghe cho sướng tai. Giáo lý ấy rất thực dụng, nó đụng chạm đến chính mình ta, vì mỗi chúng ta đều đang có một thân xác được Chúa ban cho hưởng các điều quí giá ấy. Tức là thân xác tôi, thân xác anh chị em, thân xác ông bà, cô bác đang có mặt đây: thân xác mỗi người chúng ta được Thiên Chúa nhân từ tạo dựng (bằng cách nhờ cha mẹ sinh ra), rồi được thánh hoá, đáng tôn đáng quí và là Đền Thờ Chúa Thánh Thần ngự. Đến nỗi, có một người đạo đức kia, khi xưa, mỗi lần đến thăm đứa con nhỏ của mình, thì ông quì xuống hôn trên ngực con mà nói: “Thiên Chúa đang ngự tại đây!”. Thế rồi, thân xác ta sẽ được sống lại sau một giấc ngủ dài là sự chết vì hình phạt tội lỗi, để được sống vinh hiển và hạnh phúc đời đời với Chúa, với Đức Mẹ và các thần thánh. Sướng chưa, hỡi anh chị em? Vậy điều thứ nhất, ta phải nhớ là thân xác và mạng sống ta là của quí giá, vô giá, trong số tất cả mọi của quí giá ở thế gian này. Điều thứ hai, ta phải nhớ là chính Thiên Chúa đã dựng nó cho ta. Hẳn chúng ta, ai cũng còn nhớ đoạn Kinh Thánh (sách Khởi Nguyên, ch.1 và 2) mô tả cách nôm na, bình dân và rất mộc mạc việc nắn con người từ bụi đất, rồi hà hơi sống vào mũi cho họ thành mạng sống, có bản tính linh thiêng (như người xưa đã nói: nhân ư vạn vật duy linh: giữa vạn vật vô tri giác, chỉ có loài người duy nhất là có bản tính thiêng liêng), là có trí khôn, có tình yêu, có tự do… và được Thiên Chúa đặt làm bá chủ muôn loài trên vũ trụ này. Vậy, Kinh Thánh dạy rõ ràng là mạng sống ta do Thiên Chúa tốt lành, yêu thương và quyền phép dựng nên, chứ không phải do ngẫu nhiên mà có, hay do ông thần, bà chúa nào nắn đúc nên. Ở đây, có người hỏi: người công giáo có thể chấp nhận giả thuyết (vì chưa chắc chắn hẳn) người bởi khi, hoặc nói dài dòng hơn: nguồn gốc loài người từ các vật dưới tiến hoá dần thành người không? Đáp: có thể, vì điều ấy không nghịch đức tin. Chính Kinh Thánh, qua lối tả mộc mạc, cổ lỗ, cũng đã thoáng cho thấy có sự tiến hoá: Thiên Chúa nắn hình người từ bụi lấy từ đất đai (Kn 2.7): Thiên Chúa nắn từ bụi, chứ không tạo dựng từ không, mà bụi thì lấy từ đất, là vật chất… Rồi nắn thì cần phải có thời gian, lâu ngày lâu năm, hàng thế kỷ, hàng vạn năm… Mà nắn thì phải từ thô sơ dần dần thành hoàn bị, đầy đủ… Đức tin công giáo chỉ buộc một điều này phải tin: chính Thiên Chúa ban sự sống, chứ không phải tự nhiên mà có, cho dù bên ngoài, lấy ống kính mà quan sát, lấy khoa học mà nghiệm xét, thì chỉ thấy là do các định luật tự nhiên tác động vào nhau mà thành. Mà sự sống của Thiên Chúa ban lại là một sự sống linh thiêng, bất tử, chứ không phải chết rồi, tan biến vào hư vô như cây cỏ, súc vật. Điều thứ ba ta phải nhớ: Thiên Chúa đã tạo dựng ta để sống đời đời, bất tử, cả linh hồn lẫn thể xác. Kinh Thánh dạy rõ ràng (Sách Khôn ngoan, 1.13-15,2.23): “Vì Thiên Chúa khống làm ra sự chết, Ngài không vui gì khi sinh linh hư diệt, Quả thế, Ngài đã dựng nên mọi sự cho chúng được tồn tại. Những gì được sinh thành ra trong vũ trụ đều lương hảo…” “Thiên Chúa đã dựng nên con người để được bất tử, vì Ngài đã làm ra nó như hình ảnh, bản tính Ngài”.. Nhưng người ta sẽ vấn nạn: tại sao có sự chết mà ai cũng phải chịu, kể cả người công giáo? Kinh Thánh trả lời: “Nếu chết có nhập trần gian, ấy là do ma quỉ đố kỵ, ghen tuông” (tức là nó xúi giục nguyên tổ ta phạm tội để ta mất Chúa như nó) (x. Rm 5.12tt). Thành ra, ta phải chết, do ta đã phạm tội. Nhưng Chúa Giêsu đã đến cứu ta khỏi tội và khỏi chết. Từ đó, cái chết chỉ là giấc ngủ cho ai tin vào Chúa Giêsu. Rồi một ngày kia, ngày Chúa đến Quang Lâm lần thứ hai trên địa cầu, những kẻ tin Chúa sẽ được sống lại, bất tử, và sống mãi đời đời. Tích truyện Có người kia đến hỏi cụ đồ nho rằng: – Tại sao ngày xưa đàn ông để tóc dài rồi búi tó sau gáy? Cụ đồ đáp: – Đó là để giữ hiếu với cha mẹ, vì thánh hiền đay rằng: cha mẹ đã sinh thành ra mình, thì mình phải giữ toàn vẹn cái thân do cha mẹ ban cho, làm mất một phần nào, làm hư hỏng hay huỷ hoại, là phạm tội bất hiếu; cho nên, cắt tóc là huỷ hoại một phần trong thân thể nên không được. Xưa, hồi Đức Khổng Tử còn sống, Mạnh Vũ Bá đến hỏi Ngài rằng: – Làm con, hiếu với cha mẹ điều gì là cần nhất? Đức Khổng Tử trả lời: – Cha mẹ thương con đồng đều, duy chỉ có đứa nào tật bệnh là cha mẹ để lòng âu lo nhiều hơn (phụ mẫu duy kỳ tật chi ưu). Cho nên, muốn hiếu, người con tất phải cẩn thận, giữ gìn thân thể, chớ làm gì hại, để cha mẹ đỡ lo âu, ấy là hiếu. (Trích: Khổng học đăng của cụ Phan Bội Châu, tr.205). Xem như truyện trên đây, người ta vì hiếu với cha mẹ mà trọng thân thể, giữ gìn bảo vệ đến mức đó, ta lại không thể vì hiếu với Cha trên trời, Đấng sinh dựng nên ta mà quí trọng, giữ gìn mạng sống và thân thể ta hơn sao? Hôm nay, trước khi đọc kinh đền tạ, xin gia đình hãy đọc kinh Cám Ơn, để cám ơn Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ ta, chẳng để ta không đời đời, tức là để ta trong hư vô, không có trên đời này, mà đã dựng nên ta, cho ta được làm người…

BÀI LỜI CHÚA 23 THIÊN CHÚA CHỌN NGƯỜI ANH DŨNG

Trích sách thẩm phán, ch.7 Quân Ma-đi-an kéo 135.000 người đến xâm lăng đất Israen. Thiên Chúa ban Thần Khí xuồng trên ông Ghê-đê-ôn, làm ông mạnh sức, đứng lên triệu tập dân chúng để cứu Israen. 32.000 trai tráng can đảm đáp lại tiếng gọi trưng binh của ông. Để cho họ thêm phấn chấn, Ghê-đê-ôn kêu lên Chúa: – Nếu quả thực, Người định dùng tay tôi để cứu Israen, xin hãy làm một phép lạ: nay tôi trải một mảnh lông chiên ngoài sân, sương đêm chỉ làm mảnh lông ấy ướt đẫm, trong khi chung quanh mặt đất vẫn khô. Và đã xảy ra đúng như vậy. Sáng hôm sau, ông dậy sớm và vắt sương tự lông chiên ra đầy một tô nước. Ông lại xin một dấu ngược lại, là đêm sau, mảnh lông chiên thì khô, đất chung quanh được sương thấm ướt. Và Thiên Chúa đã làm y như vậy. Thánh ý Thiên Chúa đã quá rõ ràng. Toàn đạo quân nức lòng sẵn sàng quyết tử chiến. Nhưng Thiên Chúa phán: – Quân như thế quá đông, nếu thắng trận, họ sẽ cho là do tài sức mình mà đâm vinh vang, kiêu ngạo. Ngươi hãy ra lệnh cho kẻ nào sợ sệt hãy lui về nhà. Thế là 22.000 lui về, chỉ còn một vạn. Thiên Chúa vẫn còn cho là quá đông: – Ngươi hãy dẫn tất cả đến suối nước, ở đó, Ta sẽ luyện lọc họ cho ngươi… Kẻ nào không chịu quì gối xuống uống nước, mà chỉ múc nước vào bụm tay mà hớp như chó tớp nước, thì hãy chọn những kẻ ấy. Số người này là 300 người. Còn quân Ma-đi-an, đóng trại ở đồi trước mặt thì đông như châu chấu, lạc đà của chúng không biết cơ man nào mà kể. Ghê-đê-ôn vững lòng tin vào Chúa. ông chia 300 người làm 3 cánh quân, sườn đeo tù và, tay cầm vò rỗng, dấu một bó đuốc bên trong. Vào canh khuya đêm ấy, ba cánh quân theo ba đường lẻn vào doanh trại địch quân, đồng một trật thổi tù và, vừa la hét: “Thánh chiến cho Yavê!”, rồi đập bể vò, đuốc bừng sáng như muôn ngàn vùng lửa, làm địch quân đang ngủ giật mình, mắt nhắm mắt mở, tưởng là quân Ghê-đê-ôn đông hằng hà sa số, nên sợ hãi, họ bỏ lều chạy tháo thân… Chỉ với 300 người anh dũng, Ghê-đê-ôn đã đánh bại được cả một đạo quân đông đảo. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Không cần nhiều, chỉ cần những người anh dũng. Những người này tỏ chí khí ngay trong việc uống nước. Sau khi tập trận, ai cũng khát, song rất nhiều kẻ quen thói ươn ái, lè phè, đành lòng quì gối để uống cho đã, cho no bụng… Thế thì còn làm gì được nữa, huống hồ đánh giặc! Họ chỉ lo no nê, thoả mãn cái bụng, làm sao quả tim còn dũng khí được? Còn 300 người đặc biệt kia, trái lại, không quì gối, chỉ vốc nước bằng tay, rồi vội vàng tớp nước gọi là cho đỡ khát, để còn đủ nhẹ nhàng, nhanh nhẹn mà chiến đấu. Và Thiên Chúa bảo tướng Ghê-đê-ôn chọn mấy người đó để làm nên đại sự. Phần chúng ta cũng vậy, cũng chia hai phe: Đa số nghe theo tiếng gọi của thế gian, nghe theo luận điệu của người đời bày vẽ: hãy sống như chúng tôi, như mọi người: nào là kiếm cho thật nhiều tiền bằng bất cứ thủ đoạn nào: gian dối, móc ngoặc, chạy mánh…, nào ăn thật ngon, xào nấu món này phải thêm cái nọ cái kia, ngũ vị hương, tương, ớt, hành mới thật hết xẩy, nếu cần cho vợ con đi học gia chánh về để phụng sự cái bụng mình… Đi đâu cũng hỏi có quán nhậu nào ngon nhất, thì dù xa mấy cũng tìm cách tới ăn…; nào phải chơi cho đã, mặc cho đẹp, cho đúng mốt, đúng thời trang, người ta mới có mốt ống túm, phải bỏ hết quần áo đang mặc, dù còn tốt, để may quần ống túm, đến khi quần ống loa lại đổi sang ống loa, đến lúc mốt “đít-cô”, lai đua đòi, mốt “áo bay”, cũng chạy theo…, quên rằng mặc để che thân, chứ không phải mặc đề chưng diện, cũng như ăn để sống, chứ không phải sống để ăn! Thế là họ cung phụng thân xác, làm nó hư hỏng! Còn một số khác nghe theo Lời Chúa, nghe giảng dạy ở nhà thờ, đọc sách thiêng liêng, đạo đức dạy hãy từ bỏ mình, vác thập giá, phải hãm dẹp các chi thể đang làm giặc trong mình, vì một trong ba kẻ thù ghê gớm là xác thịt mình; nên họ ra sức kìm hãm những thói lăng loàn, những đòi hỏi thể xác quá trớn, sống thanh đạm, rèn luyện thân xác cho mạnh mẽ, để phục vụ cho linh hồn được sáng suốt, tinh anh, làm chủ các dục vọng và đam mê, đúng như Lời Chúa: “Những ai thuộc về Chúa Kitô, thì đã đóng đinh tính xác thịt và các đam mê vào thập giá” (Galát 5.24). Họ xứng đáng làm lính của Chúa Kitô, thân xác họ xứng đáng làm Đền Thờ Thiên Chúa, và xứng đáng hưởng sự sống lại ngày tận thế. Vì sao hai hạng người nói trên sống khác nhau như thế? Thưa: vì hạng thì có một quan niệm đúng đắn về đời sống thể xác, theo như Chúa dạy và giáo huấn của Hội Thánh; còn hạng kia thì nghe theo quan niệm của người đời và thế gian dạy họ. Vậy chúng ta hãy có một lòng tin cho rõ rệt, đúng đắn một lần cho hẳn về đời sống thể xác, hầu biết sống đúng mức. Bài kỳ trước đã nói sơ qua: sự sống, thân xác, là một ơn huệ, là một quà tặng quí báu Thiên Chúa ban cho ta. Bởi đó, ta có hai bổn phận phải làm: – Tạ ơn Chúa, – Tôn trọng sự sống và thân xác, đừng để tội lỗi xâm phạm làm hư hỏng. Kỳ này, ta chỉ xét về: Bổn phận thứ nhất là tạ ơn: Hãy xem Đức Giêsu: Ngài đã cất tiếng cảm tạ Chúa Cha: “Lạy Cha! Cha đã nắn nên một thân xác cho con…” (Hr 10.5), thân xác đã do quyền phép Chúa Thánh Thần, lấy chất liệu trong lòng trinh khiết của Đức Mẹ. Đức Giêsu đã có một thân xác như chúng ta, không khác mảy may. Vì ta tin Đức Giêsu là Thiên Chúa, rồi cứ gọi Ngài là Chúa, cộng thêm việc Ngài sống xa cách ta cả 2.000 năm…, tất cả những cái đó hợp lại, làm ta có cảm tưởng Ngài thiêng liêng quá! Hình ảnh Ngài trong tâm trí ta là hình ảnh cao siêu, vô hình; mà ta quên Ngài có một thân xác như ta. Ngài đã sinh ra, đã sống đời trẻ thơ, đã chơi với các bạn lối xóm, đã lớn lên như một chú tập sự thợ mộc bên cạnh ông Giuse. Từ nhỏ, cậu Giêsu quen lao động, và nhờ ông Giuse dạy bảo, tập tành, cậu dần dần biết sửa cái cầy, cái bừa.:., biết đóng bàn, đóng ghế… Chắc nhiều lần cậu Giêsu đã phải vác các khúc gỗ nặng từ xa về xưởng mộc của bố Giuse, hoặc khuân đi trao cho khách hàng những đồ đạc bằng gỗ đã hoàn thành. Sau này, trên đường rao giảng Nước Trời, Đức Giêsu luôn đi bộ trên đường dốc dác, gồ ghề của quê hương toàn đồi núi. Có những ngày, Ngài phải đi một mạch từ Yêrusalem đến Ga-li-lê, đường dài 150km. Phải có sức khoẻ và dầy dạn gió mưa lắm, Ngài mới có thể ăn ngoài đường, ngủ ngoài trời, ngày thì nóng như thiêu, đêm thì lạnh như cắt, nơi cái xứ sở miền cao nguyên ấy. Mà lại thiếu thốn nữa chứ: “Con chồn có hang, con chim có tổ, còn Con Người không có cái kê đầu” (Mt 8.20). Vậy mà, có lúc Ngài ngủ say đến độ thuyền bị sóng xô, gió nhào, lồng lên, lộn xuống mà Ngài vẫn không thức giấc. Ta có thể tưởng tượng thân thể Ngài phải khoẻ mạnh và dẻo dai đến mức nào, để chịu được một cuộc ăn chay dài 40 ngày đêm không? Vậy, là Kitô hữu, ta không được khinh rẻ thân xác; trái lại, theo gương Đức Giêsu, ta phải biết cảm tạ Thiên Chúa, vì đã nắn cho ta một thân xác tuyệt diệu, một tuyệt tác của Thiên Chúa. Mới đây, có ai đã ca tụng – dù chỉ mới một phần của thân xác ấy – là Đôi Mắt: “Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và để làm duyên. Đời cho em đôi mắt màu đen để thương, để nhớ, để ghen, để hờn. Đôi mắt em là cửa ngõ tâm hồn, là bài thơ hay nhất, là lời ca không dứt, là tuyệt tác của thiên nhiên”… Mà cách cảm tạ Thiên Chúa hay nhất là làm thế nào cho thân xác ấy được mạnh khoẻ, đầy sinh lực, dẻo dai, tươi trẻ, đẹp đẽ, làm dụng cụ để linh hồn sai khiến mà vươn lên cao và phục vụ anh em đồng loại. Muốn thế, ai cũng biết là phải gìn giữ thân thể sạch sẽ, gọn gàng, ăn mặc tử tế, biết ăn uống đủ chất dinh dưỡng, cho dù thanh đạm, biết ngủ nghỉ đủ giờ, biết giải trí… Có một điều ta nên nhấn mạnh hơn, nhất là trong xã hội ngày nay, là phải vận động, tập thể dục, tập dưỡng sinh… Tây phương có câu: “Hồn lành trong xác mạnh”. Trừ những ai lao động nhiều không kể, thường thì đa số cả ngày ngồi hoặc làm việc bàn giấy, văn phòng, ít vận động, thân thể cứ mập béo ra mà không rắn rỏi, dẻo dai… Ngày nay, người ta lập ra những môn thể dục, thể thao rất hay như: y võ dưỡng sinh, thể dục nhịp điệu… và các phong trào thể thao: bơi, đua bóng, chạy… Các người cha mẹ và nhà giáo dục hãy gợi nơi con em mình sớm có tính yêu thích thiên nhiên, thích đi dạo chơi ngoài trời, về đồng quê, đi tắm biển, tắm sông… thay vì để chúng chúi vào xó tôi đánh cờ, đánh bạc, hút thuốc… hay ngồi thụ động cả ngày xem ti vi, xem vidéo hoặc đọc truyện… Sở dĩ chúng ta cổ võ thể dục, thể thao, vệ sinh và tập thân thể trong bài Lời Chúa của giờ đền tạ có tính cách thiêng liêng, đạo đức này, là có ý nhấn mạnh đến câu: Hồn lành trong xác mạnh! Tức là, nhấn đến tập luyện thân xác cho mạnh mẽ, bền dai để không những làm vinh quang cho Thiên Chúa trước hết, sau là để trở nên dụng cụ nâng nỡ tâm hồn. Vì một người biết làm chủ thể xác, thì cũng dễ làm chủ linh hồn mình. Hồn và xác có ảnh hưởng trên nhau. Tỉ dụ: một người luôn luôn ăn ở dơ bẩn, áo quần lôi thôi…, đó là một người lười biếng. Thế thì trong tâm hồn, người ấy cũng rất dễ lười biếng, không có nghị lực tẩy rửa hồn mình sạch các tính xấu, các đam mê, dục vọng, mà cứ để buông tuồng, luộm thuộm. Cũng vậy, người không có trật tự ngoài thể xác, bạ đâu quăng đó, đồ đạc lung tung, bừa bãi…, tức cũng không có nghị lực mà sắp xếp, dọn dẹp những điều bề bộn trong tâm hồn được. Nhưng, buồn thay! Thời nay người ta lại đi quá đà trong việc tập luyện cho thân xác, chăm lo thân xác đến mức ta tưởng là họ thờ phụng thể xác. Báo chí, tập san tranh ảnh, máy thu thanh và truyền hình lôi kéo người ta chú ý đến các kỷ lục điền kinh, thế vận hội…, đến chức vô địch trong thể thao, bóng đá, bơi lội…, đến các cuộc thi đua bắp thịt, thi đua sắc đẹp thân thể… Như thế, người ta không còn coi thể dục, thể thao như một phương pháp phát triển thân thể, mà trái lại, sử dụng nó như khí cụ để chiếm giải. Một ví dụ về những cảnh gai mắt: các phụ nữ thi chạy đua 4.000m, 5.000m, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác, bơ phờ, tay chân gân guốc, gớm ghiếc…, nào còn đâu vẻ diễm lệ của nữ tính, vẻ mềm mại, đáng yêu của phụ nữ. Để khoẻ mạnh, phụ nữ đâu cần phải đua đòi với nam giới cái kiểu đó, thiếu gì cách tập cho thân thể khoẻ mạnh, máu huyết lưu thông mà vẫn giữ được duyên dáng của mình! Còn biết bao điều quá trớn như thế nữa… Trong giờ đền tạ này, chúng ta xin Chúa thứ tha, vì đã không biết cảm tạ Chúa đã ban cho ta một thân xác tuyệt diệu, và đã không biết phát triển thân thể quí báu ấy. Ngược lại còn phá huỷ nó bằng đủ cách: nào rượu, nào cà phê, thuốc lá, thuốc phiện, cần sa, ma tuý và các việc độc hại khác…, làm thân thể tuyệt tác, tinh vi của ta đâm yếu nhược, nếu không chết ngay, thì cũng ốm o, xo bại, chẳng ích cho ai, làm hại cho mình, vạ lây cho người khác. Gia đình ta thề quyết với Chúa từ giờ phút này, từ bỏ các điều độc hại đó. Xin Chúa ban ơn can đảm, ban ơn phù giúp và ban ơn yên ủi. Tích truyện Trong một chuyến phản lực từ Rôma sang Nữu Ước, cô tiếp viên hàng không xinh đẹp rất khó chịu vì thấy trong số hành khách trên tàu, có một vị hồng y, mặc áo chùng thâm tu hành, mà cứ nhìn mình chằm chặp. Lúc cô đi qua lại để phục vụ hành khách, vị hồng y nói với cô: – Cô đẹp lắm! Nghe vậy, cô càng bực mình. Đến khi phi cơ hạ cánh trên phi trường, hành khách lần lượt xuống, thì cái ông hồng y kỳ quặc kia lại như cố tình đi chậm lại sau cùng… Và khi đi qua trước mặt cô, ông dừng lại nói: – Cô hãy cám ơn Thiên Chúa vì sắc đẹp của mình! Cô nghĩ thầm: – Tu hành gì mà kỳ cục quá! Thế rồi, không biết sao, hai tuần sau, tại văn phòng vị hồng y đó – Chính là Đức Hồng Y Fulton Sheen, lừng danh nước Mỹ vì các bài nói chuyện về đạo và đời hàng ngày trên ti vi – một chiều đẹp trời, cô tiếp viên nọ đến gõ cửa. Đức Hồng Y nhận ra ngay. Cô nói: – Thưa Đức Cha, lời Đức Cha hôm nọ trên phi cơ làm con suy nghĩ rất nhiều. Sau khi cầu nguyện, con đến đầy xin Đức Cha chỉ dạy con phải làm thế nào để cám ơn Chúa vì sắc đẹp của mình. Đức Hồng Y lấy bản địa đồ thế giới, chỉ cho cô thấy nước Việt Nam, trên miền cao nguyên có trại người cùi ở Di Linh. Rồi Ngài nói: – Con biết không, Thiên Chúa đã lấy tất cả sắc đẹp của những người này mà tô điểm cho con. Vậy cách con cám ơn Chúa tốt hơn cả là sang đó phục vụ cho họ! Quả thật, cô đã từ giã cha mẹ, từ bỏ chức nghiệp, lìa quê hương sang Việt Nam, tìm đến trại cùi Di Linh phục vụ.

BÀI LỜI CHÚA 24 KHÔNG ĐƯỢC LÀM HẠI SỰ SỐNG

Trích Sách Khởi Nguyên, 22.1-19 Sau khi Yavê đã cho ông A-bra-ham tuổi già hiếm muộn sinh được một đứa con trai độc nhất, tên là Y-sa-ác, thì Yavê thử lòng ông. Người phán: – A-bra-ham! Hãy lấy đứa con một yêu dấu, tức là Y-sa-ác, đem lên núi kia mà tế nó làm lễ toàn thiêu. Đau đớn khôn xiết, nhưng vâng lệnh Chúa, ông dắt con, chất củi, cùng hai đầy tớ, thắng lừa đi đến địa điểm Chúa chọn. Tới chân núi, ông dặn hai đầy tớ: – Các anh ở lại đây với con lừa. Ta và đứa trẻ phải đi tới đằng kia mà thờ lạy. A-bra-ham chất củi lên vai Y-sa-ác, còn ông cầm đá lửa và dao phay, rồi cả hai cùng đi. Y-sa-ác hỏi: – Cha ơi! Đây đã có củi và lửa, vậy vật tế lễ ở đâu? A-bra-ham đáp: – Thiên Chúa sẽ lo liệu vật hi sinh, con ạ! Khi đến nơi, A-bra-ham xếp đá xây thành bàn thờ tế lễ, ông xếp củi lên, rồi trói Y-sa-ác đặt lên trên, đoạn ông cầm dao phay, giơ tay để tế sát con… Nhưng Thần sứ Yavê từ trời gọi ông: – Abraham! Đừng giơ tay hại mạng đứa trẻ. Bây giờ, Ta biết ngươi là người có lòng kính sợ Thiên Chúa, vì ngươi không từ chối con một ngươi với Ta. A-bra-ham ngước mắt lên, thấy một con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây: đó chính là Yavê đã lo liệu lễ vật. Ông A-bra-ham liền bắt lấy nó làm lễ hi sinh thay con ông. Xong xuôi, Yavê lại phán: – A-bra-ham! Ta lấy mình Ta mà thề rằng: vì ngươi đã không từ chối con một ngươi với ra, thì Ta sẽ ban phúc lành cho ngươi. Y-sa-ác là dòng giống ngươi đó, Ta sẽ làm cho nó sinh sôi nảy nở đông như sao trời, cát biển… Mọi dân tộc sẽ lấy dòng giống ngươi mà cầu phúc cho mình. Tất cả những sự ấy chỉ vì ngươi đã vâng nghe lời Ta. Đoạn A-bra-ham cùng Y-sa-ác trở lại chỗ đầy tớ, rồi cùng nhau trở về nhà. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Thiên Chúa là Đấng đã ra luật: chớ giết người, lẽ nào chính Người lại giết? Thiên Chúa là Đấng đã sinh dựng nên loài người, lẽ nào Người lại vui sướng bảo giết họ? Cho dù là giết với mục đích cao đẹp là làm của lễ hi sinh dâng cho chính Người, Người cũng không muốn, như ta vừa nghe kể truyện ở trên. Ngay từ đầu truyện, Kinh Thánh đã nói rõ là Thiên Chúa muốn thử lòng A-bra-ham. Rồi chính Người từ trời gọi xuống, cản A-bra-ham đừng hại mạng sống con trẻ. Rồi Người lo sẵn một con cừu đực để A-bra-ham giết mà tế lễ thay cho con mình. Chúng ta càng hiểu thêm ý Chúa, khi biết rằng đang thời ấy, các dân tộc chung quanh thường có thói quen giết các con của họ là tế vật cho các thần tà giáo, nhất là thần Mô-lốc. Còn trong dân Israel, Thiên chúa ra lệnh cấm ngặt việc ấy. Cho nên, trong sách Thánh, có đoạn kia khen Chúa rằng: “Chúa là Chúa tể hiếu sinh”. “Những gì có trong vạn vật Người đều yêu mến, Người không ghét bỏ sự gì Người đã làm ra” (Kng 1.24-26). “Người không vui khi thấy sinh linh bị giết, Người đã dựng nên mọi sự cho chúng được tồn tại” (Kng 1.13-14). Tất cả các điều trên muốn đưa đến kết luận này: Thân xác và mạng sống con người, là tinh hoa của mọi loài, mọi vật, quí trọng hơn hết, là chóp đỉnh của tạo thành, không ai được phép làm hại hay giết đi. Nó sẽ tồn tại vì Thiên Chúa bảo vệ, giữ gìn, sẽ cho nó sống lại ngày tận thế, và sẽ sống mãi đời đời. Chắc Thiên Chúa phải quí trọng nó lắm, nên mới cho Ngôi Hai mặc lấy một thân xác loài người làm thân xác mình, và sau cuộc sống trần gian, Ngài đã giữ lấy nó sống mãi đời đời trên thiên đàng, giữa cung lòng Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiên Chúa quí trọng thân xác và sự sống như thế. Còn ta là ai mà dám khinh khi, xài xể, buông tuồng? Thế cho nên, về điều này, ta đừng để cho người ngoại, người vô tín ngưỡng lôi kéo ta theo các tư tưởng của họ mà làm hại, khinh rẻ, hay phá huỷ mạng sống và thân thể. Trái lại, Thánh Phaolô dạy: “hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân mình anh em” (1Cr 6.19-20). Đã đành, thân xác ta vì tội lỗi, đã trở nên xấu xa. Nhưng chúng ta đã được Phép Rửa tội thanh tẩy, thánh hoá rồi. Đôi khi, tội lỗi lại làm nhơ uế, thì phép Hoà Giải đến tha tội và tẩy sạch. Cho nên, thân xác người tín hữu đều đã được thánh hoá rồi. Vậy phải tôn trọng nó cách riêng. Thực tế, phải làm những điều sau này: 1/ Phải cám ơn Chúa mỗi ngày đã ban cho ta một thân xác, được sống làm người (có thể dùng kinh Cám ơn). 2/ Dùng thân xác tôn vinh Thiên Chúa không chỉ trong các giờ phụng vụ, lễ nghi (ở nhà thờ hoặc ở nhà) như khi đi dự lễ: miệng ca hát, đọc kinh, tung hô; chân quì gối, mình cúi lạy, tay làm dấu, vv…; nhưng còn tôn vinh trong tất cả cuộc sống nhờ Thánh Phaolô chỉ bảo: dù ăn, dù uống, dù làm sự gì, anh em hãy làm mọi sự để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr 10.31). Không phải chỉ việc nào đạo đức mới tôn vinh Chúa, ngay cả các việc bình thường của đời sống, việc phàm trần như ăn, uống, nghỉ ngơi, giải trí, lao động… cũng có thể tôn vinh Chúa được. Nhưng, việc tôn vinh Chúa cách riêng là dâng thân mình và cả đời sống ta làm lễ tế sống, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa (Rm 12.1t). 3/ Rồi ta hãy giữ đừng để thân xác mình làm dụng cụ phạm tội. Thánh Phaolô nói: “Anh em đừng hiến chi thể mình làm khí giới bất chính cho tội lỗi” (Rm 6.12). Cách riêng, tội trực tiếp phạm đến thân xác là tội dâm dục. Thánh Phaolô dạy: “Anh em hãy tránh tà dâm! Phàm mọi tội người ta phạm, thì đều ở ngoài thân xác; còn kẻ tà dâm, thì có tội phạm đến chính thân xác mình” (1Cr 6.18). 4/ Có nhiều điều làm hại thân xác và mạng sống ta phải tránh: như lười biếng tập thể dục, vận động, tập dưỡng sinh… làm thân xác ta ra èo uột, ốm yếu…, hoặc ngược lại, quá chiều dưỡng, quá lo lắng về sức khoẻ: ăn uống thái quá, làm thân xác béo phệ, nặng nề, chiều chuộng xác thịt quá đáng: để hết tâm trí vào việc tìm mọi thứ làm cho thân xác được khoái lạc. Thánh Kinh dạy: “Anh em hãy mặc lấy Chúa Kitô và đừng lo toan về xác thịt cho thoả các đam mê (Rm 13.14). Cách sống nhu nhược ấy là thửa đất màu mỡ cho các tình dục và đam mê lôi kéo không còn phương kìm hãm được. 5/ Đừng dùng những chất độc hại như thuốc lá (gây ung thư phổi), rượu… (khỏi cần nói: các sách gần đây phân tích tỉ mỉ các tai hại của rượu trên cơ thể và bộ não cách riêng)…, ma tuý: thuốc phiện, cần sa, bạch phiến, vv… Người Kitô hữu phải kiêng kỵ hẳn những cái đó, không chỉ vì lý do sức khoẻ như mọi người, song vì chúng huỷ hoại thân mình ta, là Đền Thờ Thiên Chúa. Đây, lời Kinh Thánh dạy: “Anh em là Đền Thờ Thiên Chúa và Thánh Thần ngự trong anh em. Ai huỷ hoại Đền Thờ Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng huỷ hoại người đó, vì Đền Thờ Thiên Chúa là vật thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em” (1Cr 3.16-17). 6/ Không được huỷ hoại thân thể cách trực tiếp là tự sát. Đây là một tội trọng, rất nặng nề. Chỉ mình Thiên Chúa là chủ sự sống cũng như sự chết. “Chính Ta cho chết và cho sống, tác sinh và tác tử, và không ai có tài giựt ra khỏi tay Ta” (Tl 32.39; 1S 2.6). Nhất là khi gặp sầu khổ nặng nề, bệnh tật lâu dài, ta phải nhẫn nại chịu đựng, kết hợp đau đớn mình với đau khổ của Chúa trên thập giá, và trung tín đến chết với Chúa. Những kẻ vô đạo, vô tín, họ muốn tự sát vì lý do gì mặc kệ, phần ta chỉ biết nghe lời Chúa dạy. Có những hình thức tự tử cách gián tiếp, giết người gián tiếp, vì thế ít người chú ý như: phóng xe quá tốc độ, lạng xe, lách xe, chạy trái luật lưu thông, lái xe ẩu, lái xe trong tình trạng say rượu, chơi những trò nguy hiểm vô ích, vv… 7/ Ở đây, phải nói cách riêng đến việc sát hại bào thai, hay phá thai… là hình thức phá hoại mạng sống những kẻ vô tội, yếu đuối, và không thể tự vệ. Tuân theo lệnh Thiên Chúa, Hội Thánh cương quyết cấm phá thai một cách rất nghiêm ngặt. Ai làm tội này, nhất là làm nghề phá thai, hoặc đồng loã, đồng tình, đồng mưu, bị phạt vạ tuyệt thông, nghĩa là loại ra khỏi Hội Thánh, và chỉ Linh mục nào có thấm quyền mới giải vạ ấy được. Nhẹ nhất là không được chịu các Bí tích. Ta cũng nên tìm hiểu lý lẽ người đời nêu ra để cho phép họ phá thai. Họ nói: các nhà khoa học cho rằng bào thai từ khởi đầu cho đến 4 hoặc 5 tháng: chưa phải là bào thai loài người, chưa là người, vì trong tiến trình tiến hoá, nó chưa có hình thù và các cơ quan của loài người, mới chỉ là hình thù đại khái như con nòng nọc, hoặc ếch nhái, hoặc một động vật nào đó thôi. Cho nên, chỉ cấm phá thai khi đã 5, 6 tháng trở đi… Nhưng Hội Thánh không dựa vào các khoa học gia, mà dựa vào ý Chúa: Ta là chủ sự sống và sự chết. Mà bào thai, tự lúc khởi đầu thụ thai, là bắt đầu một con người rồi. Giết nó là giết người. Để giúp dễ xác tín hơn, ta hãy dựa vào một đoạn Kinh Thánh Luca 1.26tt: đó là trình thuật truyền tin và Đức Mẹ đi thăm bà E-li-sa-bet. Sau ngày truyền tin ít hôm, Đức Mẹ đi thăm bà E-li-sa-bet, vì Thiên thần báo là bà đã thụ thai được 6 tháng rồi. Cuộc hành trình từ Nadarét đến Ain-ka-rim, xứ Yuđê mất độ 5, 6 ngày. Khi vừa vào nhà, E-li-sa-bet thoạt nghe tiếng chào của Đức Mẹ, thì hài nhi (tức bào thai trong lòng bà) nhảy mừng và bà được đầy Thánh Thần mà kêu lên: “Trong nữ giới có bà là diễm phúc. Đáng chúc tụng thay hoa quả lòng bà! Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến với tôi?” Bà Elisabet được đầy Chúa Thánh Thần mà kêu lên, có nghĩa là bà được Thánh Thần soi sáng mà nói lên ba điều chân thật này: a/ Bào thai nhảy mừng: Theo kiểu nói Kinh Thánh, có ý nói là được ơn cứu độ, được ơn thánh sủng, do được tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chúa hiện diện trong lòng Đức Mẹ. Như thế là Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống mặc xác trong lòng Đức Mẹ lúc ấy rồi, chứ không đợi đến 5, 6 tháng sau, khi bào thai trong dạ Đức Mẹ thành hình người mới xuống, và Chúa thánh hoá Gioan Tẩy giả đang còn trong lòng mẹ. b/ Hoa quả lòng bà đáng chúc tụng: Hoa quả lòng bà, có ý nói là đứa con của bà. Đáng chúc tụng: lời chúc này dành riêng cho Thiên Chúa. Như vậy, bà E-li-sa-bet chúc tụng Chúa đang ngự trong lòng Đức Mẹ, làm con Đức Mẹ rồi. c/ Mẹ Chúa tôi đến thăm tôi: Nếu Chúa Ngôi Hai chưa xuống mặc xác phàm trong lòng Đức Mẹ, làm sao Đức Mẹ được xưng là “Mẹ Chúa tôi” được? Vậy tất cả các điều đó đều nói rằng: bào thai trong lòng Đức Mẹ lúc ấy cho dù mới khởi đầu, còn trứng nước, song đã được nhìn nhận là Chúa Ngôi Hai đã xuống mặc xác ngay rồi, chứ không đợi bào thai lớn 5, 6 tháng. Hội Thánh còn dựa theo một luận chứng thần học nữa để bảo rằng: bào thai ngay từ giây phút thụ thai, đã là một con người, một mạng người, tuy còn trứng nước! Đó là thoạt khi đậu thai, thì Thiên Chúa ban xuống một linh hồn ngay, linh hồn ấy như kiến trúc sư sẽ điều khiển sự phát triển bào thai ấy, kiến thiết toà nhà là thân xác từ khởi sự cho đến hoàn thành. Hôm nay, gia đình chúng con làm giờ thánh cầu nguyện này, để đền tạ với Chúa, vì chúng con vô ơn bội nghĩa, làm đủ mọi điều nói chẳng sao xiết hại đến thân xác và mạng sống, là món quà quí giá, là kiệt tác Chúa đã ban cho chúng con. Chúng con là con cái Chúa, mà cách sống chúng con chẳng khác gì người ngoại đạo và vô tín… Xin Chúa tha thứ cho chúng con, và giúp chúng con cải thiện cách sống theo Lời Chúa dạy. Tích truyện Vì quá yêu chàng, một thiếu nữ nọ đã có thai cách lén lút và bất hợp pháp. Cô xấu hổ, sợ gia đình mang tiếng, cha mẹ đánh đập, nên cô có ý phá thai. May nhờ một người bạn tốt an ủi và nâng đỡ, giúp cô lánh xa gia đình ít lâu, lấy cớ đi công tác. Cô đã sinh ra đời một cậu bé kháu khỉnh và thông minh. Được yêu thương, săn sóc, lớn lên, cậu đã trở thành một nhà nhạc sĩ nổi danh khắp năm châu, một thần đồng, một thiên tài hiếm có… Đến lúc ấy, người bạn kia mới nói đùa với cô: – Giả sử em đã không nghe tôi mà phá thai, em đã làm cho thế giới mất đi một vĩ nhân, một thiên tài!

BÀI LỜI CHÚA 25 NGƯỜI DÁM LIỀU MẠNG CAN VUA

Phỏng theo Tin Mừng Thánh Máccô, ch.6 Hồi Chúa Gjêsu rao giảng Nước Trời, Quận vương Hê-rô-đê An-ti-pa đang trị vì miền Ga-li-lê. Ông mê sắc đẹp vợ người anh ruột mình là Phi-líp và dùng uy quyền kèm với mưu mẹo đem bà về làm vợ mình cách công khai, bất chấp luật đạo, luật đời, coi thường lời đàm tiếu và gương xấu ông gây cho dân chúng. Nhưng, đang lúc mọi người chỉ thầm chê bai, hay phản đối suông; thì Gioan Tẩy giả, Vị Tiền hô của Chúa Cứu Thế, làm sao có thể làm ngơ trước sự xúc phạm luật Chúa như vậy được. Ông đã một mình vào gặp ông Vua ngoại linh và liều mình can Vua: – Không được phép lấy vợ của anh ruột! Để bịt miệng Gioan, Hê-rô-đê bắt giam ông trong một hầm ngục ở lâu đài Ma-kê-rôn, cạnh Biển Chết. Phần bà Hoàng Hê-rô-đia, thấy Gioan dám can ngăn mối tình lăng loàn của mình, đâm căm thù ông và khăng khăng muốn giết ông, nhưng không thể được. Chắc bà đã xúi Vua, nhưng Vua không giết ông, một phần vì sợ dân chúng nổi loạn, vì họ rất kính trọng ông, phần khác, vì vua cũng còn nể ông, biết ông là người công chính và lành thánh, nên vẫn che chở: nghe ông giảng, Vua đâm phân vân nhiều nỗi, nhưng lại cứ thích nghe. Nhưng cơ hội thuận tiện đã đến với bà Hê-rô-đia: Hê-rô-đê, nhân dịp lễ sinh nhật mình, cho thết tiệc đãi các công thần văn võ cùng thân hào xứ Ga-li-lê. Con gái của Hê-rô-đia ra nhảy múa, đã làm say mê Hê-rô-đê cùng khách dự tiệc. Nhà Vua mời nói với cô gái: – Muốn gì cứ xin, trẫm sẽ ban, dù nửa nước, trẫm cũng sẽ ban. Nó ra hỏi mẹ: – Con phải xin gì? Mẹ nó bảo: – Đầu Gioan Tẩy giả! Tức khắc, nó hăm hở đi vào đến trước mặt Vua, xin rằng: – Thần muốn Ngài ngự ban trên một chiết đĩa, cái đầu của Gioan Tẩy giả. Nhà Vua giật mình, tỉnh cơn say và rất buồn lòng, nhưng vì đã lỡ thề trước mặt công hầu khanh tướng, ông không còn cách nào từ chối. Lập tức, nhà Vua sai trảm quyết Gioan và đem đầu đặt trên đĩa mà trao cho nó. Nó đã bưng vào đưa cho mẹ nó. * Đó là Lời Chúa! – Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa! Suy niệm Lời Chúa Gioan Tẩy giả là kiểu mẫu của con người dám liều mạng để bảo vệ thánh luật Chúa và thuần phong mỹ tục. Chính Đức Giêsu cũng phải ngợi khen ông qua lời nói bóng bẩy này: – Các ngươi đi ra sa mạc đề coi cái gì? Cây sậy rung trước gió ư? Để thấy một tiên tri ư? Phải: còn hơn tiên tri nữa, vì Kinh Thánh ca ngợi ông là Thần Sứ Thiên Chúa sai đi trước mặt Đấng Cứu Thế để dọn đàng cho Ngài. Trong các kẻ sinh ra trên mặt đất, chưa có ai lớn bằng Gioan Tẩy giả. Ông lớn, ông đáng phục không chỉ vì ông là Vị Tiền Hô, mà còn vì ông tính cương quyết, không ẻo lả, ươn hèn như cây sậy nghiêng ngả. Ông là một con người dám sống, dám chết vì chính nghĩa. Như chúng ta đã bàn ở những kỳ trước: mạng sống và thân xác ta là món quà quí báu Thiên Chúa ban, ta phải tạ ơn Chúa và gìn giữ cùng phát triển nó. Tuy nhiên, lại có những trường hợp mà dù nó quí báu đến thế, ta vẫn có quyền và còn bó buộc phải liều mạng sống và sức khoẻ để bảo vệ. Đó là trường hợp mà những điều, những vật có giá trị cao quí hơn mạng sống bị lâm nguy. Chúng ta thử tóm những điều cao quí hơn mạng sống ấy vào ba phạm vi như sau: Thứ nhất, trong phạm vi siêu nhiên: như danh dự của Thiên Chúa và Hội Thánh, đức tin, phần rỗi linh hồn của ta hoặc của người khác, vv.. Thánh Phaolô vì nóng lòng muốn cứu rỗi người Do thái đồng chủng với ông, nên đã nhiều lần bôn ba xuôi ngược, bị tù đày, bị đánh đòn, bị ném đá đến ngắc ngoải chết, mong cứu lấy một vài người trong họ. ông thốt lên một câu: “Tôi thà chịu tuyệt thông, lìa xa mặt Chúa, để anh em đồng chủng của tôi được rỗi, thì tôi cũng cam!” – Hoặc lấy ví dụ khác: Thà mất nồi gạo, mất công ăn việc làm, chẳng thà chối đạo, làm nhục danh Chúa, như các thánh tử đạo Việt Nam ngày xưa. Thứ hai, trong phạm vi công ích, quyền lợi tập thể: như bảo vệ tổ quốc mình hay tổ quốc nước bạn bị tấn công cách bất công, hay trong một cuộc chiến tranh chính đáng. Hoặc tranh đấu cho tự do, cho công bằng xã hội, cho quyền lợi cấp công nhân, người nghèo… Người công giáo chúng ta, quen sống lề lối cũ, cứ nghe tranh đấu là sợ và e ngại sẽ đi sai tinh thần Chúa. Phải phân biệt có hai thứ tranh đấu: tranh đấu vì hận thù, vì lợi lộc thì xấu; còn tranh đấu vì chính nghĩa như ta vừa nói, thì mình có bổn phận phải dấn thân vào, đứng ngoài là hèn nhát, là phản bội tình yêu Chúa. Vì sao thế? Vì tranh đấu, bênh vực những người bị áp chế, cách chung, đó là yêu thương họ. Mà yêu thương là luật lớn nhất của đạo Chúa. Từ chối việc yêu thương ấy là phản bội Chúa chứ còn gì! Hãy xem Đức Giêsu, Ngài hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và vẫn dạy ta phải thương yêu kẻ thù, làm ơn và cầu nguyện cho họ. Ấy thế mà, trước những cách đối xử của nhóm Biệt phái, các luật sĩ – là hàng chức sắc, lãnh đạo tôn giáo của dân Do thái – đã làm hại đến đạo vì thói kiêu căng, giả hình, làm hại linh hồn dân chúng vì lời dạy và đường lối sai lệch của họ, thì Chúa la mắng họ không còn tiếc lời, thậm chí Chúa mạt sát và (có thể nói) chúc dữ cho họ. Ta hãy nghe thử: “Khốn cho các ngươi, ký lục, tiến sĩ, luật sĩ giả hình, vì các ngươi khoá nước trời chận người ta lại, các ngươi đã chẳng vào, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào. Khốn cho các ngươi, đã khéo léo làm bộ cầu nguyện lâu dài để phỉnh lừa, làm cho các goá bụa, con côi tưởng các ngươi đạo đức, nhân nghĩa, mà đến nhờ vả các ngươi bênh vực, ai dè các ngươi nuốt chửng tiền nong, nhà cửa của họ, tiền mất tật vẫn mang. Khốn cho các ngươi, đồ giả hình, bề ngoài đẹp đẽ, đạo đức, nhưng giống như mồ mả tô vôi, bên trong lòng chất đầy tham ô, tham tiền, tham danh lợi và vô tiết độ, đầy mọi thứ bẩn thỉu xú uế!…” (ai muốn đọc tiếp, cứ mở Tin Mừng Mt, ch.23). Đức Giêsu không dùng bạo lực để đàn áp hay thủ tiêu họ, Ngài xuống thế để cứu mà! Nhưng Ngài chỉ dùng lời nói, đôi khi mạnh hơn thì dùng lời la mắng và chúc khốn cho họ. Nói cách khác, Chúa muốn cách mạng lương tâm họ. Nhưng nếu họ không chịu sửa, cứ ngoan cố, chai lì, thì lời chúc khốn của Chúa sẽ thành án phạt. Hoạ diệt vong đã đến trên dân Do thái ấy vào nạm 70 theo công lịch, cho toàn thể đất nước Do thái, như chúng ta đã biết, và đó là một sự kiện lịch sử. Và sự kiện ấy Chúa đã báo trước: “Thành Thánh này sẽ đến lúc tan tành, chẳng còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào”. Nhưng trước ngày đại hoạ, Chúa chỉ đe doạ, trách mắng họ. Chính vì thế mà họ ghét Ngài và đã âm mưu giết Ngài. Ngài đành cam chịu, liều mạng sống để bảo vệ chính nghĩa của Thiên Chúa. Trở lại với vấn đề quyền lợi tập thể và công ích. Ta có thể lấy thêm vài ví dụ nữa. Trong xí nghiệp, Hợp tác xã…, mình phải bảo vệ quyền lợi tập thể, chống lại mọi âm mưu lũng đoạn, những vụ lem nhem làm hại cho công nhân, xã viên lương thiện, vô tội… – Trên một chiếc tàu sắp đắm, người thuyền trưởng phải liều chết ở lại chỉ huy cho cuộc di tản xuống xuồng, bè của các hành khách cho đến người cuối cũng – Lính cứu hoả liều mạng chữa cháy các căn phố, xông pha vào lửa, vào nơi khói ngạt… – Nhà thương chữa bệnh truyền nhiễm như bệnh cùi, phải có những người không ngại hôi thối, không sợ lây bệnh hiểm nghèo… để săn sóc, chữa trị, an ủi những con bệnh xấu số, như cha Đa-miêng, trong trại cùi ở một hòn đảo xa xôi, như cha Cas-sai-gne, từng làm Giám Mục địa phận Saigon cách đây 20, 30 năm, đã xin từ chức vinh sang, cao quí, để trở về trại cùi Di Linh săn sóc, chữa trị, nâng đỡ các con bệnh bị người đời ghê tởm, xa lánh, tiếp nối công việc Ngài đã làm trước khi được Toà Thánh phong chức Giám Mục; cuối cùng, Ngài đã chết vì bệnh cùi, và thêm bệnh lao xương cấp tính vì thiếu thốn, vì sống kham khổ, hi sinh (ai muốn biết thêm, tìm đọc cuốn sách viết về đời Ngài). Thứ ba, phạm vi mạng sống người khác: Phạm vi này tuy có vẻ nhỏ hẹp, song lại thường xảy ra hàng ngày, và chính vì cái thường ngày ít ai để ý đó, mà nó tăm tối, bao người đã hi sinh mạng sống mà chẳng ai tuyên dương công trạng, ít báo chí đăng tải hay sách vở nêu tên tuổi. May thay! Chúng ta biết rằng: nếu mắt người đời không thấy người đời không ca tụng, nhưng có mắt Cha trên trời thấu suốt nơi kín ẩn, Người sẽ hoàn trả công cho (x. Mt 6.4,6,18). Kìa người cha, người mẹ hi sinh sức khoẻ, có khi liều mạng sống để săn sóc con bị bệnh, hay lúc gặp người ta đe doạ hoặc khi con gặp nguy hiểm… Kìa vị bác sĩ, y tá liều mình lôi một thương binh bị thương về bệnh xá, để chữa chạy, và để làm việc ấy, họ đã bị bom đạn kẻ địch bắn phá, có khi còn mất mạng (x. tạp chí Liên Xô SPOUTNIK, số 3-1986, tr.125: “Chiến tranh không mang bộ mặt phụ nữ”) – Hoặc có trường hợp liều mạng nhảy xuống vớt một người, một đứa trẻ bị chết đuối, vv… Bây giờ, tóm kết lại, ta có thể nói: Những người liều mạng sóng như thế không phải là họ khinh chê hay đùa giỡn với mạng sống, thân thể hay sức khoẻ của mình, nhưng là hi sinh mạng sống vì yêu thương và bảo vệ một điều quí giá hơn mạng sống nữa. Đức Gịêsu đã dạy như thế này: “Kẻ cố tìm sự sống mình thì sẽ mất, còn kẻ đành mất sự sống mình vì Ta, thì sẽ gặp lại” (Mt 10.39). Những người đành mất sự sống mình vì chính nghĩa, vì chân, thiện, mỹ, vì tha nhân, tức là vì Chúa, thì Chúa hứa họ sẽ tìm lại được, tức là mạng sống của họ sẽ không bao giờ phải sa hoả ngục, mất đi đời đời, cả xác hồn; trái lại, sẽ tìm lại được sự sống đã mất của mình, trong Chúa, họ sẽ có một sự sống vĩnh cửu và hạnh phúc. Đức Khổng Tử xưa cũng nói một câu rất hay: “Mạng sống thì ai chẳng quí, song còn có điều quí hơn mạng sống nữa. Chết thì ai cũng sợ nhưng còn có những cái đáng sợ hơn sợ chết nữa”. Đức Khổng thật là bậc thánh hiền, đáng phục. Chúa Giêsu đã phê chuẩn sự hi sinh thân xác và mạng sống ấy khi phán: “Không có tình yêu nào lớn hơn kẻ hi sinh mạng sống vì yêu”. Chính Ngài đã sống trọn vẹn điều đó trước nhất: Ngài đã hi sinh mạng sống, bằng lòng chết, đang khi Ngài cho biết có thể xin Cha cấp cho 12 cơ binh thiên thần bảo vệ Ngài. Và Ngài bằng lòng chết là vì cái chết của Ngài là giá chuộc chúng ta khỏi quyền lực ma quỉ tội lỗi và sự chết đời đời. Vì thương yêu ta, Ngài phải cứu lấy ta với cái giá đắt đỏ ấy. Trước khi chấm dứt, ta nên nói phác sơ về những sự phí phạm sức khoẻ và liều lĩnh mạng sống cách vô lý. Vậy sẽ phạm tội trọng những ai đã được biết mà cứ liều lĩnh mạng sống và sức khoẻ vì những lý do tầm phào, không chính đáng. Ví dụ: vì buồn mà tự tử, hoặc vì cá cược, vì lấy le, lấy tiếng… mà đua xe hết tốc độ trên đường phố… Ngày nay, vì thiếu ý thức về sự cao quí của mạng sống, vì thiếu được dạy đạo lý, mà nhiều người, nhất là thanh thiếu niên nam nữ đùa giỡn với sức khoẻ, đùa bỡn với tử thần một cách nhẹ dạ, đáng sợ: nào rượu, nào xì ke, ma tuý (nói lóng là bồ đà), nào phóng xe lạng qua lách lại rất nhanh trên đường phố, càng đông xe cộ càng làm già. Có lúc họ cá nhau đua chạy Honda luồn qua gầm xe lớn đang chạy hết tốc độ trên xa lộ… Có bao cha mẹ để cho con còn vị thành niên lái xe có động cơ (xe hai bánh, ba bánh), chúng còn thiếu kinh nghiệm, tay lái non, lại thêm tính háo danh, muốn làm phách, sẽ gây ra bao tai nạn, hư xe, gẫy tay chân, hoặc chết, còn gây án mạng cho người khác nữa… Nói sơ qua vài ví dụ, anh chị em có thể kể ra không biết bao nhiêu ví dụ khác. Ta hãy nhắc lại điều nói ở trên: những người làm như thế là phạm tội trọng. Lạy Chúa! Gia đình chúng con làm giờ cầu nguyện và nghe Lời Chúa này, để xin Chúa tha thứ bao tội lỗi, sa phạm về điều răn thứ năm này: hoặc vì dại dột, liều lĩnh, hoặc ngược lại vì hèn nhát, không dám liều mạng sống và sức khoẻ để bênh vực các điều cao quí hơn mạng sống chúng con. Amen! Tích truyện Ở bên Đức quốc, gần thành phố Muy-ních, có một cái cầu bắc trên một vực sâu thăm thẳm. Nhiều người chẳng hiểu đau buồn hay thất vọng chuyện gì, đã lao mình từ trên cầu xuống vực thẳm. Ngày nay, người ta cho dựng một cây thập giá Chúa chịu nạn trên cầu. Để làm gì vậy? Để thập giá nói với kẻ sắp tự tử vì tuyệt vọng rằng: “Tốp! Đừng vội! Hãy suy nghĩ lại, con ơi! Thập giá con có nặng hơn thập giá của Ta không? Vậy hãy vác nó cùng với Ta, để con được sống đời đời”.

BÀI LỜI CHÚA 26 SALÔMÔN, NGƯỜI KHÔN NGOAN, THÔNG THÁI

Trích sách 1 Các Vua, ch.3 và 5 Thiên Chúa đã ban cho Vua Sa-lo-môn được khôn ngoan, thông thái rất bao la, lòng trí quảng bác như trùng khơi, hơn tất cả các người hiền triết Phương Đông hay Ai cập hay bất cứ ai trong thiên hạ. Tên ông vang dội đến các nước, các dân. Ông đã tuyên ba ngàn châm ngôn, và thi ca của ông tính đến 1.005 bài. Ông đã bàn đến thảo mộc từ bá hương ở núi Li-băng cho đến bài hương mọc ở vệ đường. Ông đã bàn đến loài thú, loài chim, loài côn trùng, loài cá. Người ta từ các dân thiên hạ kéo đến nghe sự khôn ngoan của ông, và ông đã nhận được quà tặng, lễ cúng của các vua trên trái đất. Một vụ kiện sau đây làm chứng về sự khôn ngoan đó. Bấy giờ có hai gái điếm đến kiện nhau: – Dám thưa Chúa thượng, hai đứa chúng tôi ở chung một nhà, tôi sinh con vài ngày thì chị ấy cũng đẻ. Một đêm nọ, con chị bị chị ngủ mê đè chết. Chị lén đến giường tôi bồng lấy con tôi, và đặt đứa con đã chết của chị thay vào, lúc ấy tôi ngủ nên không biết. Đến sáng, thức dậy cho con bú, tôi thấy thằng bé chết rồi. Nhưng khi nhìn kỹ, thấy nó không phải con tôi. Nhưng chị kia, vừa nghe nói, liền cãi trước mặt vua rằng: – Không đâu! Đứa sống là con tôi, đứa chết là con chị. Chị nó cãi lại: – Không phải, đứa chết là con chị, đứa sống là con tôi. Tôi đẻ ra, tôi biết chứ! Cứ thế cãi qua cãi lại. Vua phán: – Thôi, các ngươi im đi! Quân bay, lấy thanh kiếm ra đây cho trẫm! Quân hầu đưa thanh bảo kiếm của Vua ra. Vua truyền: – Phanh thây đứa bé sống làm hai cho mỗi chị một nửa. Chị có đứa con sống mới tâu Vua, vì lòng dạ chị bỏng xót lên vì con: – Dám thưa Chúa thượng, xin đừng giết nó, thà cứ cho chị kia đứa bé. để nó được sống còn hơn! Nhưng chi kia nói: – Xin cứ phanh thây, cho nó khỏi thuộc về tôi, cũng chẳng thuộc về chị, thế là khỏi cãi cọ! Lúc ấy, Nhà Vua mới lên tiếng xử: – Người mẹ xót con, chính là mẹ thật đứa trẻ. Hãy trao đứa bé cho chị ta, đừng giết nó! Toàn thể dân Israen nghe lời phân xử của Vua thì đem lòng kính phục, vì họ thấy nơi Vua có sự khôn ngoan của Thiên Chúa.* Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Sự thông thái, sự khôn ngoan, nói tóm, trí thông minh là quà tặng của Thiên Chúa cho loài người, lúc Ngài dựng nên họ. + Cứ suy thì sẽ thấy: Có nhiều thú vật mạnh hơn loài người như sư tử, hổ, voi…; nhanh hơn như ngựa, thỏ, chim én…; thính tai, thính mũi hơn như chó, mèo, chim săn mồi…; ấy thế mà loài người đã có thể tự bảo vệ chống lại chúng, lại còn thắng chúng và bắt chúng làm việc cho mình. Cách đây một trăm ngàn năm, người cổ đại đã bảo vệ lều và hang trú ẩn của mình khỏi thú dữ bằng cách đốt một đống lửa. Họ đã có thể đánh bẫy được các con voi khổng lồ gọi là “ma mút”, cũng như giết các mãnh thú khác bằng cung, tên, mũi lao, và bây giờ bằng súng đạn. Loài người khắc phục mãnh thú, rồi làm chúng thuần thục: nào bắt voi kéo gỗ, trầu bò kéo cầy, ngựa kéo xe và làm vật để cưỡi, bắt sư tử, gấu làm trò xiếc ta coi. Nếu mắt người không tinh, thì người lại biết chế ra ống nhòm; ngày nay ống kính hiển vi điện tử nhìn một con vi trùng lớn bằng con voi; biết chế rađa để nhìn xa hàng ngàn cầy số, ngay cả trong đêm tối. Nếu không thính tai, biết chế ra máy thu thanh, máy ghi tiếng động dưới gầm đất hay dưới biển sâu, bơi không bằng cá thì chế ra thuyền, ca nô, tàu thuỷ; không bay được như chim, thì chế ra phi cơ, bây giờ là phản lực, bay hàng chục ngàn cây số với tốc độ 900km/g, tốc độ không chim nào đạt tới… Nói ra không hết, không cùng: nào điện tử, nào động cơ, nào điện khí, nào nguyên tử năng… Loài chim có hót, điệu hót nó muôn đời vẫn chỉ có mấy cung, còn loài người biết ca, biết hát, hát đơn ca, hát hợp ca, các dàn nhạc muôn cái, mỗi cái mỗi cung mỗi giọng… Loài người còn biết vẽ, biết nặn tượng, biết đánh cờ, biết thêu thùa, may vá, mỗi mùa một thời trang… biến hoá không cùng. Tất cả các cái đó chỉ có thể có được, vì loài người có trí thông minh, có trí tưởng tượng, có ý chí, có tình cảm, biết học hỏi, và biết hợp tác với nhau mà làm, biết dạy nhau để người sau làm tốt hơn, tiến bộ hơn người trước. Nói tắt, vì có các quan năng tinh thần, mà ta gọi là linh hồn. + Nhưng ai ban cho họ có các quan năng ấy? Mặc cho ai nghĩ sao thì nghĩ, chúng ta, người công giáo, lấy trí thông minh suy xét thì thấy mọi sự đều phải có nguyên nhân: đồng hồ phải có thợ làm ra, nhà phải có người xây, nước phải có Vua hay thủ lãnh, trí khôn ta phải có Thượng Đế phú ban. Không thể tự nhiên mà có. Vũ trụ vật chất làm sao ban cho ta tinh thần được? Nó không có tinh thần, không có trí khôn, sao nó ban cho ta? Không ai có thể cho người khác cái mà chính nó không có! Thêm vào suy luận khôn ngoan tự nhiên đó, đức tin dựa vào Lời Chúa mặc khải trong Kinh Thánh, đến dạy ta thêm rõ hơn và chắc chắn hơn rằng: trí khôn ta, tinh thần ta, do Thiên Chúa phú bẩm cho ta. Chỉ vì người ta không thấy, cho nên mới từ chối không tin điều đó, hoặc cho đi không thấy bằng mắt, thì vẫn có thể dùng lý trí ngay thẳng mà thấy bằng tinh thần. Còn chúng ta tin, và chắc chắn chúng ta đúng rằng: Chính Thiên Chúa, sau khi đã ban cho ta một thân xác, một sự sống tuyệt vời, như đã bàn ở các kỳ trước, còn phú ban vào thân xác ấy tinh thần, các quan năng, các năng khiếu, ta gọi tất là linh hồn, tức là một cái hồn, không phải chỉ là sinh hồn như cây cỏ, không chỉ là giác hồn như súc vật song là linh hồn, hồn linh thiêng, cao siêu, không chết, không tan rã, sống mãi đời đời. Đây bằng chứng Kinh Thánh: “Yavê Thiên Chúa đã nắn hình người với bụi lấy từ đất đai, và Người đã hà hơi sống vào mũi nó và con người đã thành mạng sống” (Kn 2.7). Chắc ai cũng biết là Kinh Thánh tả nôm na, bình dân Thiên Chúa như có tay chân, và như ông thợ gốm nặn tượng đất. Bản văn Kinh Thánh cổ này, đã được gần 40 thế kỷ rồi, xưa lắm, cổ lắm; cho nên viết và thời cổ ấy, loài người còn bán khai, cổ lỗ, phải tả cách bình dân, mộc mạc như thế mới dễ hiểu, dễ nhớ. Song với chúng ta sống ở thời đại văn minh, khoa học thế kỷ 20, ta chỉ cần hiểu cái ý muốn nói gì thôi. Vậy ý muốn nói là Thiên Chúa dựng nên thân xác và sự sống con người bằng những chất liệu có sản trong trời đất, có khi trải qua bao nhiêu nắn nót, chứ không phải đùng một cái là con người hiện ra như từ đất nẻ chui lên nguyên xi (do đó có thể chấp nhận thuyết tiến hoá, mà lối tả Thiên Chúa nắn, nặn đã gợi ý). Nhưng câu: “Người hà hơi sống và mũi nó”, ta phải hiểu ý muốn nói rằng: Thiên Chúa phú bẩm vào trong thân xác con người một sự sống vừa tự nhiên, vừa siêu nhiêu, đó là sự sống của Thiên Chúa, có thể nói cách gợi hình rằng: Thiên Chúa hà hơi, cái hơi sống từ buồng phổi Thiên Chúa, vào trong con người, tức là sự sống của Thiên Chúa, mà khi tạo dựng các súc vật không thấy Thiên Chúa làm như vậy, Người chỉ dựng bằng một lời phán, một việc quyền năng phép tắc, là chúng có sự sống tự nhiên của loài chúng thế thôi. Nhưng, nhờ một đoạn Kinh Thánh ở chỗ khác, ý nghĩa về hồn thiêng mới càng rõ rệt. Đó là đoạn 1, câu 26 và 27 của sách Khởi Nguyên. Sau khi Thiên Chúa đã dựng các loài, các vật, trời đất, tinh tú…, Người long trọng phán: “Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Ta, như hoạ ảnh của Ta… Chúng sẽ thống trị trên cá biển, chim trời…”. Loài người được giống hình ảnh Thiên Chúa nghĩa là gì? Nghĩa là giống như con giống cha, cha sao thì sinh con làm vậy. Thiên Chúa là Cha, Người có trí thông minh, có tài năng, có tự do, có yêu mến; thì Người dựng nên ta giống như Người vậy, cũng có trí khôn, có tài năng, có tự do, có yêu mến, có sự sống như Người; tuy nhiên không bằng Người được, chỉ có một phần nào thôi. Do đó ta thấy ông Sa-lo-môn khôn ngoan, uyên bác chừng ấy. Trong lịch sử nhân loại, ta được đọc thấy biết bao nhà bác học, triết gia, khoa học gia, nhạc sĩ lừng lấy như Anh-Stanh (Einstein), Pát-stơ (Pasteur), Mô-da (Mozart), Bi-thô-vơn (Beethoven), vv…

Nhưng ta chớ vội dừng lại ở đây. Với Chúa Giêsu và Tân Ước, ta được dạy thêm rằng: ngoài việc mọi người đều có trí khôn hay hồn thiêng như thế, song riêng người tín hữu, những kẻ tin vào Chúa Giêsu và chịu Phép Rửa tội, còn được thông chia bản tính thần linh, bất tử và vĩnh cửu của Thiên Chúa. Như thế, họ lại càng giống hình ảnh Thiên Chúa hơn nữa, đến nỗi, họ được gọi là “những kẻ sinh bởi Thiên Chúa” (Thánh Gioan). Khi được biết Thiên Chúa thương ta như thế và đã ban cho loài người được các của quí báu như vậy, thì ai còn có thể vô tâm mà không hết lòng tạ ơn Ngài. Điều ta sẽ nói với nhau đây, không để chống đối hay chê ghét ai, nhưng thực đáng thương thay cho những người vì mù quáng hay ngu dốt, thiếu suy nghĩ đến nơi đến chốn, mà dám bảo rằng loài người chỉ như con vật, con trâu, con bò, cầy bừa, làm lụng tối tăm mặt mũi suốt đời, rồi gục xuống chết là hết. Tội nghiệp cho họ, họ không được đức tin cho biết những chân lý tốt đẹp và phấn khởi như chúng ta. Điều này cũng là một lý do thêm để tạ ơn Chúa, tức là không những Chúa cho ta có hồn thiêng, mà còn cho ta biết là ta có sự đó nữa. Kỳ này, đến đây là đủ, kỳ sau, ta sẽ bàn: biết có linh hồn và các quan năng ấy, ta phải phát triển làm sao? Chúng ta cùng cầu nguyện: “Lạy Chúa, Đấng Tạo dựng muôn loài, muôn vật! Chúng con xin dâng lời chân thành cảm tạ Chúa, vì đã cho loài người chúng con vinh dự sang quí trên mọi loài, mọi vật của vũ trụ này, là có hồn linh thiêng bất tử, đề chúng con bá chủ muôn loài và để chúng con biết Chúa, yêu mến Chúa cùng phục vụ đồng loại sống cuộc đời vui tươi, hào hứng, đáng sống ở đời này, dọn về sống mãi muôn đời với Chúa đời sau. Chúng con cũng làm giờ đền tạ này, để xin Chúa thứ tha cho chúng con biết bao lần không coi trọng linh hồn mình. Xin tha thứ cho tất cả những ai được có linh hồn mà từ chối không tin, phủ nhận món quà tình thương của Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con, vì công nghiệp Chúa Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con. Amen!” Tích truyện Xưa có một người mù, lục nào cũng kết thúc lời cầu nguyện bằng câu: nếu điều con xin đó có ích cho linh hồn con”. Một hôm, người ta dẫn ông đến trước mộ thánh Tôma hay làm phép lạ, để xin thánh nhân làm phép lạ chữa cho ông khỏi mù. Ông được nhận lời: đôi mắt ông vụt sáng, nhìn rõ mọi vật. Còn gì vui sướng bằng, ông như chết mà được sống lại. Nhưng sau những giây phút vui mừng, sung sướng, ông chợt nhớ mình quên kết thúc lời cầu nguyện bằng câu thường lệ: “Nếu điều con xin đó có ích cho linh hồn con”, nên ông vội vã trở lại trước mồ vị thánh, ông xin cho được mù lại, nếu điều xin đó có ích cho phần rỗi linh hơn ông hơn là được sáng mắt mà mất linh hồn. Quả nhiên, đôi mắt ông lại hoá mù như trước; nhưng từ đó, đời ông càng thêm thánh thiện. Quả ông đã biết trọng linh hồn hơn thể xác.

BÀI LỜI CHÚA 27 NỮ HOÀNG SABA YẾT KIẾN SALÔMÔN HOÀNG ĐẾ

Trích sách 1 Các Vua, ch-10 Tin đồn về sự thông thái, khôn ngoan của Vua Sa-lo-môn lan ra khắp các nước, đến tai cả những người xứ Ả rập xa xôi; giữa những vùng sa mạc nóng cháy. Vậy có nữ hoàng Sa-ba, cai trị một xứ ở vùng Ả rập ấy, quyết định đến yết kiến Sa-lo-môn, vì bà đã nghe đồn về khôn ngoan của ông, cũng như về Đền Thờ nguy nga, đồ sộ ông xây để dâng kính Thiên Chúa Yavê. Bà đến Yêrusalem với đoàn quân hầu hào hoa, lịch sự chưa từng có, đem theo hàng đàn lạc đà tải vàng và hương trầm quí, cùng bao nhiêu trân châu, bảo ngọc. Bà còn đến với dự tính ra các câu đố để thử tài ông. Sa-lo-môn đã giải cho bà tất cả các câu đố hóc hiểm, không có điều nào mà ông không giải được. Khi nữ hoàng Sa-ba thấy tất cả sự khôn ngoan cao vời ấy, những đền đài, cung điện ông đã xây, những món sơn hào hải vị trên bàn ngự yến, các dinh thự của các quan triều thần, hàng ngũ và giáp binh của quân đội, các y phục gấm vóc lụa là của quần thần, và nhất là những lễ thượng hiến vô vàn vô số chiên, bò ông dâng tế lên Yavê…, thì bà không giấu nổi sự khâm phục, ngây ngất. Bà nói với Vua: – Quả là sự thật tất cả những điều tôi đã nghe khi còn ở quê nhà về các công việc, tài năng và khôn ngoan của Hoàng Thượng. Tôi đã không muốn tin, và coi như hoang đường, bày đặt. Mãi cho đến bây giờ, tôi đến tận nơi, nhìn thấy tận mắt. Thật ra, điều người ta đồn chưa bằng một nửa. Về khôn ngoan và thịnh đạt, Ngài đã trổi xa hơn lời đồn thổi! Phúc thay các Hoàng hậu và cung phi của Ngài !Phúc thay các quần thần của Ngài, những người chầu chực luôn trước mặt Ngài và được nghe sự khôn ngoan của Ngài. Chúc tụng Yavê, Đấng đã đem lòng sủng mộ Ngài và đã đặt Ngài trên ngai của Israen, để thi hành công minh, chính đức! Bà đã dâng tặng cho Vua 120 tạ vàng và vô số trầm hương với trân châu bảo ngọc đếm không xiết như chưa từng thấy ở Yêrusalem. Và Vua Sa-lo-môn cũng tặng lại nữ hoàng vô cùng hào phóng, xứng bậc hoàng vương. Rốt nữ hoàng đã lên đường hồi hương. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Nghe lời một nữ hoàng ngây ngất khen tặng sự khôn ngoan, tài năng của Sa-lo-môn, thật sướng tai! Xét lại nguồn gốc sự khôn ngoan của Vua, ta thấy Kinh Thánh thuật rằng: ông đã cầu xin Chúa. Và điều ấy đẹp lòng Chúa đến nỗi Chúa ban kèm thêm của cải, vinh sang, quyền lực (x. 1V 3.9-13; 2Ks 1.20-12). Nhưng không phải ông ngồi chờ khôn ngoan từ trời chui vào đầu óc ông như một phép lạ. Chắc ông cũng phải học hành, tập tành, bàn hỏi… Phần ta cũng vậy. Bài kỳ trước cho ta biết: ta được Chúa phú bẩm cho ta trí khôn và các năng khiếu tinh thần, ta cũng phải khai thác và phát triển. Đó là điều bàn ở kỳ này. Không khai thác và phát triển, thật uổng cho đời ta, và cũng là tội vô ơn đối với Đấng ban ơn. Quy luật phát triển đều thấy có ở mọi vật có sự sống. Ngay các súc vật cấp thấp cũng đã thấy: gà con không chỉ cần hơi ấm, thức ăn, song gà mẹ gọi con theo, tập cho biết bới đất tìm sâu. Càng thú vật cao đẳng, sự tập luyện càng nhiều: mèo mẹ bắt chuột về vờn trước mặt mèo con. Đến loài khỉ, loài cá heo, có thể xếp hạng “thông minh” bậc nhất, biết làm bao trò xiếc như ta thường xem trong ti vi: đó cũng nhờ loài người biết tận dụng, khai thác các khả năng của chúng. Tuy nhiên, khả năng chúng chỉ có hạn. Còn loài người, quan năng tinh thần có khả năng hầu như vô biên, sức tiến bộ vô tận. Vậy vài điều phác sơ sau đây, không có ý dạy, song để nhắc nhớ các bậc phụ huynh: 1/ Ngay từ bé, tập cho con em phát huy khả năng tinh thần. Thường chúng ta đợi chúng lớn khôn. Thế không đúng. Ngày nay, các nhà tâm lý giáo dục coi mấy năm đầu là thời kỳ vô cùng quan trọng! Đó là thời kỳ các em thu được rất nhiều vốn liếng hiểu biết đủ thứ làm nền tảng cho cả đời sau này. Cách đây ít lâu, trong tạp chí Liên Xô, thấy nói đến tập bơi cho các em mới chập chững biết đi, tập nói hai ba sinh ngữ cho các em lên hai tuổi… Ta xem đó! Người ta gửi các em vào Vườn trẻ hoặc Mẫu giáo có đủ chuyên môn để giúp các em biết hát, múa, nhận định màu sắc, phát triển các quan năng ngay từ ấu thời! Ở đây chỉ xin các phụ huynh một lưu ý: trẻ con hay đặt các câu hỏi đủ thứ: Tại sao thế này? Cái gì đó? vv… Đó là trí khôn đang mở ra. Ta đừng sốt ruột, nóng nảy, la mắng các em quấy rầy ta, mà nên ra sức giải đáp vừa tầm cho các em. Đối với chúng, phụ huynh đang là các thần tượng, quyền phép, tài ba, hãy tranh thủ giữ ngôi vị cao cả ấy, hãy tranh thủ lòng tin tưởng ấy nơi con em mình. 2/ Đến lúc lớn, phụ huynh giúp các em ý thức khả năng tinh thần và sự cần thiết phát triển chúng tối đa nhờ trường học, nhờ khoa học, nhờ sách báo, nhờ các phương tiện truyền thông. Xin lưu ý phụ huynh về tuổi dậy thì của con em: lúc mà các thần tượng ca nhạc, màn ảnh ciné, ngôi sao bóng đá… rất có ảnh hưởng; vì lúc ấy, các thiếu niên đang có tầm hồn khao khát những lý tưởng cao cả, rộng lớn. Tuỳ sự hướng dẫn mà chúng hấp thụ ảnh hưởng tốt hay xấu. Lúc đó cũng là lúc chúng đi theo bạn bè, ham thích các cuộc tiêu khiển… Ở khía cạnh này, con em ta chịu ảnh hướng tốt hay xấu, lợi hay hại cho suốt đời. Học thày không tày học bạn! 3/ Phụ huynh không chỉ cho con em đến trường, hay phú thác cho các linh mục, dì phước lo trau dồi khả nàng con em, nhưng còn phải khuyên các em tham gia các phong trào thanh thiếu niên, các hội đoàn, sự giao tiếp xã hội, các lớp huấn nghiệp, các lớp học tâm sinh lý, dự bị hôn nhân… Tất cả đều phải liên kết, hợp tác với gia đình và phụ huynh, để đào tạo năng khiếu của tâm hồn, của trí khôn cách hài hoà: Cuộc đời sẽ mở rộng để đón những em nào, ngoài vốn liếng học hành, còn biết ca, biết đàn, biết vẽ, chụp hình… Cuộc đời sẽ đáng sống và tươi đẹp hơn cho những em nhiều khả năng: đá bóng, chơi banh, chơi cờ tướng, cờ quốc tế, biết làm thủ công, biết tháo vát, biết lái xe, biết vẽ, vv… 4/ Nói như thế, để phụ huynh đừng chỉ nhắm cho con đi học lấy bằng, hoặc không được thì học một nghề gì để đi làm có tiền, để làm ông nọ ông kia, có tiền của mà sống cho sung sướng và nuôi vợ nuôi con. Đừng nhắm điều ấy mà thôi, nhất là đừng nhắm sớm quá! Đã hẳn, đó là điều thực tế và cần thiết. Nhưng tiền của chưa đủ để con người hạnh phúc, để con người đúng là con người. Trong báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22-11-86 có bài viết về hạnh phúc, có trích câu này của một nhà triết gia Hi lạp, ông Hê-ra-cơ-lít: “Nếu hạnh phúc dựa trên vật chất mà thôi, thì ta có thể nói con bò có hạnh phúc”, khi đã ăn cỏ no bụng. Không! Con người không là con bò, chỉ cần tiền để ăn no bụng, mặc áo đẹp… Con người còn có tinh thần, linh hồn; nên phải đào tạo các quan năng ấy. Không phải chỉ làm con em ta thành một thợ giỏi, một bác sĩ, một kỹ sư hay gì gì…, nhưng trước tiên là thành một con người, theo đúng nghĩa con người, hướng về cả ba mặt: Chân – Thiện – Mỹ. Đến đây, ta có thể đặt câu hỏi: Bỏ lơ việc phát triển các quan năng tinh thần (trí và đức) có tội không? Chắc chắn có, nặng hay nhẹ tuỳ theo mức độ của sự chểnh mảng, cũng như đã nói về sự lơ là không phát triển hoặc bảo vệ mạng sống và thể xác vậy. Nhưng đáng buồn là nhiều người không biết chuyện đó. Nguyên đo sự không biết này là vì sức khoẻ và các sự vật chất dễ nhận thấy hơn, và bởi thế, ta chú trọng vào chúng quá nhiều. Tỉ dụ: đói cơm thì thấy bụng cồn cào, chân tay rã rời, chứ trí khôn thiếu học hỏi, tâm hồn thiếu Lời sự sống của Chúa, có ai cảm thấy thiếu đâu? Một cái chân bị tai nạn làm gẫy, đi đứng không được, thì dễ thấy khổ sở, thiệt thòi hơn là một bộ óc lười biếng, thiếu suy nghĩ, không biết sử dụng “chất xám hay một linh hồn thiếu ơn Chúa, thiếu tình mến Chúa… Vậy lơ là, chểnh mảng là có tội. Tội ấy: a/ Phạm đến Chúa: vì vô ơn, bạc nghĩa: Thiên Chúa ban quan năng tinh thần cho ta như một cái vốn, ta không biết làm lợi ra. Hãy nhớ đến dụ ngôn Chúa Giêsu nói về các nén vàng trao cho đầy tớ, người không làm lợi đã bị phạt nặng. b/ Phạm đến chính mình: Vốn tinh thần Chúa ban để ta sửa soạn cho tương lai và cuộc đời, sao cho đẹp và xứng đáng như Chúa mong ước. Chúa muốn ta nên giống như Đức Giêsu, Con Chúa, được chừng nào hay chừng ấy, và về đủ mặt. Thế mà, ta lại đề trí khơi ngu dốt, tối tăm, tâm hồn bần tiện, ích kỷ, độc ác…, thành một thằng người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm…, không thể nào xứng với Nước Trời của Chúa được.. c/ Phạm đến người khác và cộng đồng xã hội: Mọi người và cả xã hội đã giúp ta, kẻ nhiều, người ít, để ta sống, có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được mọi thứ đồ dùng…; nay ta thành nhân, đến lượt ta phải “trả nợ” hay đóng góp phần ta vào xã hội, cho mọi người… Đó là bổn phận báo ơn, đền đáp. Nếu ta chỉ là một kẻ suốt đời sống bám vào người khác, vô dụng cho gia đình, cho xã hội, cho quốc gia…; thử nghĩ xem như thế không có lỗi sao? Và lỗi nặng nữa. Tất cả các điều vừa nói đây, có lẽ anh chị em lấy làm lạ tai, vì ít khi nghe các Cha giảng đến. Có lẽ vì chúng ta không đi học thêm giáo lý, nên không được nghe, hoặc có khi các đấng giảng dạy không bao giờ đề cập đến, chỉ toàn nới về đạo đức, thiêng liêng thôi chăng? Thôi thì cái thiếu sót ấy được bù đắp ở bài suy niệm Lời Chúa hôm nay. Như thế, gia đình chúng ta có lý để đền tạ với Chúa, vì đã không làm điều phải làm, đã thiếu sót bổn phận với Chúa, với mình, với xã hội. Tích truyện Cô Ê-len Ken-lơ (Hélène Keller), từ nhỏ đã bị mù và điếc, do bệnh viêm màng não. Sau đó, bệnh trạng thêm nặng, bị câm nữa, thành ra cuộc đời em Ken-lơ hoàn toàn bị giam kín trong đêm tối và im lặng: em không nhìn thấy, không nghe gì và cũng không nói được một câu nào. Thật là tình trạng khủng khiếp! Một ngày kia, vì thương cảm số phận đen tối của em, có người đã khéo tìm được cách liên lạc với trí khôn em: người ấy cầm tay em, đặt dưới một vòi nước, đang lúc ấy làm một cái dấu hiệu trên tay em. Như một tia chớp loé, em hiểu cái tương quan giữa làn nước lạnh và dấu hiệu. Em hồi hộp cảm động: em hiểu là từ nay, có thể lấy bàn tay làm dấu hiệu là đòi được uống nước… Và cứ thế, em tìm ra nhiều dấu hiệu khác để chuyển ý của em, ngược lại, người ta làm những dấu hiệu trên bàn tay em để nói với em… Sáu tháng sau, Ken-lơ đã có thể đọc và viết bằng chữ Brai, chữ nổi của người mù. Đến năm 16 tuổi, cô đi học trường trung học, 24 tuổi đỗ tiến sĩ bằng ba thứ tiếng Đức, Pháp và cổ ngữ. Đã hẳn, cô dành được các thắng lợi đó giữa muôn vàn khó khăn không thể tưởng tượng, với một sức mạnh ý chí lớn tựa núi non. Thế rồi, cô dâng đời mình phục vụ các người cũng bị xấu số như mình. Thoạt tiên, cô viết nhiều sách, kể lại kinh nghiệm của mình, các mò mẫm, các cố gắng… Rồi cô đi nhiều nơi diễn thuyết, nhờ đó, trong ít lâu, cô đã thu được một triệu đô la để giúp các bạn đau khổ. Cô đi như thế, vòng quanh trái đất tới sáu lần. Văn hào Mác-Tuanh tặng cô biệt hiệu: “Một thí dụ sống động của nghị lực, ý chí và trí khôn nhân loại, khiến thắng được các liệt bại thể xác tưởng như không thể thắng nổi”. Còn chúng ta, những người lành lặn, có đủ cả ngũ quan và các quan năng, tại sao lại để chúng đâm liệt bại vì thiếu ý chí; thiếu cố gắng?

BÀI LỜI CHÚA 28 THƯƠNG XÁC BẢY MỐI

Với bài này, ta bước sang một đề tài mới là bác ái đối với tha nhân.Trích Sách Tô-by-a, ch.1-4 và 12 Ông Tô-bi bị Vua San-ma-na-da bắt làm phu tù, đi lưu đầy cùng với người Israen sang Ni-ni-vê. Ông là người công chính, giữ lề luật Chúa trọn vẹn, và rất có lòng kính sợ Thiên Chúa. Lòng đạo của ông không chỉ là đi dự lễ, đến nhà thờ, đọc kinh, nguyện ngắm Lời Chúa, mà còn diễn tả ra bằng các việc lành phúc đức. Ông không những làm gương sáng cho người lân cận, mà còn giúp đỡ họ tận tình: giúp tiền cho kẻ mồ côi, goá bụa và khách tha phương, bố thí cho kẻ nghèo đói, túng thiếu. Ông kể rằng: – Người đói, tôi cho bánh ăn; kẻ mình trần, tôi cho áo xống; nếu thấy có thây chết nảo bị quăng ngoài tường luỹ Ni-ni-vê, tôi đem chôn cất. Số là Vua mới tên Sa-ne-kê-ríp lên nối ngôi vua trước, ông rất ghét người thờ phượng Thiên Chúa, nên tìm giết họ như những tên đại gian, đại ác. ông Tô-bi không sợ cơn bắt bớ, cứ thăm viếng kẻ tù ngục, yên ủi, giúp đỡ họ, và khi họ bị giết, ông lén lấy trộm xác đi chôn cất tử tế. Bị người Ni-ni-vê tố cáo lên Vua, ông bị kết án tử hình. May nhờ các bạn tâm phúc, ông trốn được, ẩn náu một nơi, còn gia tài ông bị tịch biên hết không còn gì. Ít lâu sau, vua độc ác kia bị ám sát, Tô-bi lại trở về Ni-ni-vê, đoàn tụ với vợ con và tiếp tục làm việc nghĩa. Hôm ấy, ngày đại lễ Ngũ Tuần, người ta dọn một bữa tiệc thịnh soạn mừng ông. Thấy món ăn la liệt trên bàn, ông chạnh lòng nhớ đến những kẻ đói nghèo, và sai con rằng: – Này con, hãy ra đường và gặp ai nghèo đói trong anh em ta, hãy dẫn về đây chia sẻ bữa ăn với cha. Này cha đợi con về đó! Lúc đưa một người nghèo đói về, cậu con nói với cha: – Cha ơi! Có một người Israen bị sát hại, người ta quẳng xác ngoài bùng binh. Vừa nghe, ông Tô-bi chỗi dậy, bỏ bữa ăn, đi lấy xác người đó, đem về giấu đi, đợi đến tối mịt đem chôn. Sau đó, ông mới tắm rửa và ngồi ăn uống. Nhưng bữa tiệc lúc ấy đã biến thành “ăn bánh trong tang sầu”. Đến tối mịt, ông đào huyệt chôn xác người ấy. Hàng xóm thấy thế xì xào: – Hắn vẫn chưa sợ! Đã bị tầm nã và kết án tử hình, phải bỏ trốn, thế mà bây giờ hắn vẫn lại chôn xác kẻ chết! Họ không biết rằng ông Tô-bi kính sợ Thiên Chúa hơn sợ vua As-sy-ri, và lòng thương người lớn lao đến nỗi không làm ông chùn bước trước một hi sinh nào. Đã vậy ông có được Chúa thưởng gì đền đáp đâu! Chỉ gặp toàn là tù ngục, kết án, chạy trốn, gia tài bị tịch thu… Và lần này, xui xẻo hơn nữa: tối đó, vì quá mệt, trời lại nóng bức, ông nằm ngủ bên mé tường, nên bị cứt chim từ mái nhà rớt xuống làm ông bị mù cả hai mắt. Chỉ mãi sau này, như ta đã biết, ông được cậu con là Tôbya lấy mật gan cá rịt cho ông, mắt ông mới sáng lại. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ông Tô-bi là con người đã thi hành trọn vẹn việc thương xác bảy mối. Có anh chị em nào thuộc lòng, xin đọc lên thử coi? [mời đọc…] [Hoan hô!] Ông Tô-bi thương người đến luỵ vào thân, vì sao ông không ngại? Thưa: vì ông là người công chính, đạo đức, tức là người vâng giữ luật Chúa truyền dạy. Ta cũng vậy, Chúa cũng dạy ta yêu người. Thương người có 14 mối, thương linh hồn 7 mối, thương xác 7 mối. Thực hành các điều đó mới xứng danh là đạo bác ái. Bài sau, ta sẽ bàn về cách thực hành mối thương xác. Kỳ này, ta hãy suy niệm các lý do tại sao ta phải thương và giúp đồng loại. l/ Trước hết, sự sống thật quí giá: Khi ta nhìn một em bé mũm mĩm, đang chơi đùa, hồn nhiên, vô tư lự và vui sống, ta cảm thấy xúc động! Ta thầm nhủ: sự sống con người thật cao quí, thật đẹp đẽ, thật lạ lùng! Đó là mầu nhiệm sáng tạo: một con người vừa xuất hiện trên cõi đời, tươi mới, trẻ trung, mang theo nó bao hứa hẹn, bao khả năng tiềm tàng trong thân xác non nớt, nhỏ xíu đó. Và ta thử hỏi: Trẻ này mai sau sẽ thế nào? Một người tốt, một anh hùng, một vĩ nhân, một bậc thánh? Hay ngược lại, thành một tên côn đồ, một kẻ vô dụng, hại gia đình, phá xã hội, một kẻ dữ sa hoả ngục đời đời? Sẽ ra thế nào ư? Một phần không nhỏ là do những người xung quanh có quan tâm, săn sóc, giúp đỡ nó không: săn sóc khi còn nhỏ, giúp đỡ khi đã lớn và đã thành người. 2/ Sự sống quí giá và là một ơn huệ của Chúa, nên ta tôn trọng mạng sống và thân xác ta thế nào – điều đó ta đã xem ở các bài trước – thì ta cũng phải tôn trọng, lo lắng, săn sóc, giúp đó người khác như thế. Bạn thử tưởng tượng đang ở trên xe đò, trước mặt bạn là một bà mẹ với đứa con thơ 3 tuổi. Xe sắp chuyển bánh. Tiếng người lơ xe hô bác tài: “Chạy!”. Và anh ta đang sắp đóng sầm cửa lại. Bỗng bạn thấy bàn tay em bé đang kẹt vào khe cửa. Bạn sẽ cảm thay thế nào? Nếu không phải là tim sẽ thắt lại? Bạn sẽ làm gì? Bạn có thể ngồi điềm nhiên nhìn bàn tay non nớt kia sẽ nát tan, máu chảy xối xả và em bé đau đớn khóc thét lên được không? Chỉ một giây mà cả đời em bé sẽ tàn phế, có khi phải cưa cụt đến cổ tay! Không! Không thể như thế! Bạn không thể ngồi yên, nếu bạn còn có một con tim của loài người. Bạn phải làm một cái gì đó để cứu nguy. Và giả sử em nhỏ đó là chính bạn, chắc bạn sẽ mong được ai cứu giúp. Do đó, ta phải đến cứu giúp tha nhân, như Chúa đã dạy: “Điều gì các con muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7.12). 3/ Hãy xem gương Thiên Chúa: Ngài thương và săn sóc mọi tạo vật Ngài đã dựng nên; cách riêng đối với loài người, Ngài tỏ ra nhân hậu, yêu thương biết bao, bất kể họ là ai. Chúa Giêsu nói: “Chúa ban mưa nắng cho kẻ lành cũng như kẻ dữ”. Thế nhưng, có điều này đáng lưu ý: theo lối quan phòng xếp đặt của Ngài, Ngài săn sóc, giúp đỡ ta qua trung gian của người khác, Chúa nhờ tay người này giúp đỡ người kia, cha mẹ giúp đỡ con cái, người khoẻ giúp người yếu, người giàu giúp người nghèo, vv… Thấy người khác nghèo đói, bệnh hoạn, khổ đau mà không giúp đỡ, đó không còn là con người nữa, mà là con vật, hoặc con người đó không có trái tim. Người ngoại đạo ngày xưa vì tin vào thuyết định mệnh, nên họ để mặc người khác nghèo khổ, đau đớn, vì nghĩ rằng đó là “số kiếp”, đó là “tiền oan nghiệp chướng”, “kiếp trước đã ăn ở thất nhân, thất đức”, ráng phải chịu vậy. Cùng lắm, họ chép miệng cảm thương rồi thôi, chẳng tích cực giúp đỡ gì, chưa kể có khi vì mê tín dị đoan, cái khổ của người khác còn gợi lên nơi họ một mối lo sợ bị lây xui xẻo, nên họ thường tránh xa, hay đốt hương, đốt vía xua đuổi. Nghe nói có chuyện này, chẳng biết đúng hay sai: các người thuyền chài, thấy ai sắp chết đuối, họ kiêng không đến cứu vớt, vì sợ xui, sợ Hà bá! 4/ Đạo Chúa dạy khác: Thiên Chúa là Cha nhân từ, thì đạo của Chúa chỉ có thể dạy lòng bác ái! Ngay trong Cựu Ước, Chúa phán: “Ta ưa chuộng tình thương hơn là các lễ vật” (Hs 6.6). Và Chúa dạy phải có những hành động thương yêu cụ thể. Cứ xem gương ông Tôbi trên kia đủ rõ. Rồi Ngài còn chúc phúc: “Phúc cho ai lưu tâm đến người nghèo khó và yếu đuối, ngày họ gặp hoạn nạn, Thiên Chúa sẽ gỡ thoát cho” (Tv 41.2). 5/ Gương Chúa Giêsu: Đức Giêsu đã đến, Ngài mang tình thương Thiên Chúa xuống trần gian giá lạnh, ích kỷ và khổ đau này. Ngài đẩy tình thương người lên đến đỉnh cao chót vót, khi Ngài tuyên bố: “Điều răn lớn nhất và trọng nhất là yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Điều ấy đã đành. Điều răn thứ hai cũng giống như thế, quan trọng ngang với điều thứ nhất: đó là yêu thương người ta như mình vậy”. Nói thật, đạo ta chỉ có hai điều răn ấy. Còn ngoài ra, các điều khác đều từ đó “phăng” ra, thế thôi. Nhưng nên nhớ, Đức Giêsu không chỉ nói, Ngài đã thi hành trước: Ngài động lòng thương người phung hủi, đưa tay đụng đến để chữa lành. Thấy bà goá thành Naim đang khóc lóc đi sau quan tài đứa con trai độc nhất, Ngài chạnh thương làm một phép lạ lớn cho cậu con trai sống lại và trao tận tay bà. Hàng ngàn kẻ đau ốm, tật nguyền, quỉ ám, động kinh, Ngài đều ra tay chữa lành, bất kể có đạo hay không có đạo, tốt hay xấu. 6/ Lời Chúa Giêsu dạy: Làm trước, dạy sau. Đức Giêsu dạy môn đồ điều Ngài đã thi hành trước. Rồi Ngài dạy: “Các con hãy yêu mến nhau, như Thày đã yêu mến các con”. Ngài còn nói đó là điều răn mới: “Thanỳ ban cho các con một điều răn mới: là các con hãy yêu mến nhau…”. Mới ở chỗ nào? Xưa, Cựu ước đã dạy phải yêu thương rối cơ mà? Người đời cũng vẫn nói: thương người như thể thương thần! Cái mới thì ra ở chỗ này: Yêu thương người ta không chỉ như mình, mà còn như Thày đã yêu mến chúng con, yêu như cách Chúa yêu, yêu như lòng Chúa yêu, như mức độ Chúa yêu, vv… Cái mới còn ở điểm này nữa: khi ta thương và giúp đỡ người nào, thì ta làm cho chính bản thân Chúa: “Quả thật, Thày bảo các con, những gì các con đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất của Thày là các con đã làm cho chính mình Thày”. Có người nghĩ rằng Chúa khuyên ta nên yêu mến nhau. Không yêu mến, giúp đỡ nhau cũng chẳng sao, miễn là mình cứ xưng tội, rước lễ đọc kinh, lần hạt là đủ, vẫn được lên thiên đàng! Đừng nghĩ vậy! Sai lầm to! Chúa Giêsu đã coi đó là một lệnh truyền cơ mà: “Này là lệnh truyền của Thày: các cơn hãy yêu mến nhau…” (Ga 15.12; 12.17). Vậy đây không phải chuyện đùa, thích thì làm, không thích thì Thôi. Ai tử tế với ta, ta giúp đỡ, kẻ nào ta ghét, ta mặc kệ… Chúa Giêsu còn nói một cách khác để ta thấy rằng: không yêu thương, giúp đỡ người khác, ta chẳng còn là tín hữu Chúa, mà chỉ là một kẻ ngoại đạo: “Cứ dấu này mà người đời biết chúng con là môn đệ Thấy: đó là chúng con yêu mến nhau”. Không làm như thế, chúng ta không phải là môn đệ Ngài nữa, mà là kẻ ngoại đạo roi. Chúng ta ở đây, ai ai cũng đều biết các điều Chúa dạy, song khốn nỗi, trái tim ta thường lười biếng và ích kỷ, cứ luôn tránh né yêu thương, hoặc viện đủ lý lẽ để làm ngơ, giả điếc, không giúp đỡ anh em khác. Đã là lệnh truyền, đã là điều răn Chúa dạy, mà ta không thi hành, thì hình phạt Chúa chờ ta đó, ngày phán xét Chúa sẽ quở trách khủng khiếp: “Hỡi phường bị chúc dữ, hãy xéo đi xa Ta, mà vào lửa đời đời. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn, khát không cho uống, Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước, mình trần không cho mặc, Ta đau yếu và ở tù, các ngươi không thăm viếng… Quả thật, những gì các ngươi từ chối không làm cho kẻ nhỏ hèn nhất, là các ngươi đã không làm cho Chính mình Ta”. Gia đình chúng ta hãy tạ tội với Chúa và hứa từ nay sẽ tuân hành lệnh truyền của Chúa, như ông Tô-bi, hầu được phúc sống đời đời bên Chúa. Tích truyện Bác sĩ Lông-giê (Longet) là một bác sĩ người Pháp, đã từng phục vụ ở Việt Nam cách đầy 30 năm, và cũng nổi tiếng như bác sĩ Tom Dooley, người Mỹ, đã phục vụ ở Đông Nam Á. Ông tận tuỵ săn sóc, yêu thương các bệnh nhân, bất kể giai cấp, tôn giáo, chủng tộc, bất kể ngày đêm. Được hỏi vì sao ông quí bệnh nhân đến thế? Vì sao ông có thể bỏ ăn, bỏ ngủ vì bệnh nhân, xem bệnh nhân trên hết? Ông đáp: – Vì thấy Chúa Giêsu trong người bệnh. Mỗi sáng, khi đi dự lễ, bệnh nhân lương giáo, ai muốn đi đều được ông chở trên xe. Mỗi chiều Chúa nhật, ông chở các bệnh nhân đi chơi, tham quan nơi này, nơi nọ. Và mỗi tối, ông lần hạt chung với các bệnh nhân công giáo. Vì là người Pháp, đang bập bẹ học tiếng Việt, ông chỉ thuộc mấy kinh Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, đủ để lần hạt chung với họ. Ít lâu sau, trở về Pháp, ông dâng mình đi tu, vào chủng viện, rồi được phong linh mục. Ông tình nguyện sang Việt Nam lại và phục vụ những người nghèo khổ nhất ở địa phận Cần Thơ. Tiếc thay! Sau khi chịu chức linh mục, chưa kịp thực hiện nguyện ước, Cha Lông-giê bi bệnh và qua đời.

BÀI LỜI CHÚA 29 THƯƠNG XÁC 7 MỐI (TIẾP)

Trích Tin Mừng Thánh Mátthêu, 25.31tt Khi Con Người đến trong vinh quang của Ngài, cùng với các thiên thần, bấy giờ Ngài sẽ ngự trên ngai vinh hiển. Các dân thiên hạ được thâu họp trước mặt Ngài hết thảy, và Ngài phân tách người ta ra khỏi nhau, giống như người chăn chiên tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Ngài đặt bên phải, dê thì ở bên trái. Bấy giờ, Vua cả trời đất sẽ nói với những người ở bên phải: – Hãy đến, hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy lĩnh lấy làm cơ nghiệp Vương quốc đã dọn cho các ngươi từ tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn, Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống, Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước, Ta mình trần, các ngươi đã cho Ta mặc, Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng, Ta ở tủ, các ngươi đã đến với Ta”. Bấy giờ, kẻ lành đáp lại rằng: – Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi thấy Ngài đói mà đã cho ăn, khát mà đã cho uống, là khách lạ mà đã tiếp rước, mình trần mà đã cho mặc, đau yếu hay ở tù mà chúng tôi đã đến với Ngài? Đáp lại, Vua Cả sẽ nới với họ: – Quả thật, Ta bảo con người rõ: những gì các ngươi đã làm cho một người trong những anh em hèn mọn nhất này của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta”.* Đó là Lời Chúa! Lạy Chúa Ki tô, ngợi khen Chúa! Suy niệm Lời Chúa Những hình thức thương và giúp đỡ thể xác người ta thì muôn hình vạn trạng. Chúa Giêsu tóm tắt tất cả trong một câu khuôn vàng thước ngọc này: “Mọi điều các con muốn người ta làm cho mình, thì các con cũng hãy làm cho người ta” (Một 7.12). Tôi đói và muốn người ta cho tôi ăn ư? Thì tôi hãy cho kẻ khác đang đói được ăn như vậy. Trong cảnh tả về phán xét chung, ta vừa nghe đọc trong Lời Chúa, Chúa Glêsu đã nêu ra những sự khốn cực chính của nhân loại cùng khổ: “đói khát” tức là thiếu ăn, thiếu uống, thiếu dinh dưỡng; “khách lạ” là những người mất quê hương, lang bạt xứ người, không nơi trú ngụ, không ai thân thiết giúp đỡ, thân cô thế cô, lạc loài, bơ vơ…; “mình trần” là rách rưới, mặc không đủ ấm; “đau yếu” là bị bệnh tật, không có tiền mua thuốc, phải đi bệnh viện điều trị, không đủ sức khỏe…; “ở tù”, nói rộng ra là mất tự do, bị đe dọa, theo dõi, mọi hình thức giam hãm… Nói chung là những hình thức đau khổ phần xác của loài người. Trước khi bàn thực tế về các mối thương xác, ta hãy xây dựng cho con em ta có từ thuở bé một tâm hồn quen yêu thương và phục vụ ngay trong gia đình. A/ Trong nhà: Các em nhỏ vốn là cái đích qui tụ mọi yêu thương và săn sóc của cha mẹ, anh chị. Tình thương của cha mẹ là thửa đất màu mỡ và ấm áp, làm trổ sinh nơi các em tình thương kẻ khác Được yêu thương, các em sẽ đễ biết yêu thương. Đừng lầm với với sự cưng chiều quá lố và phi lý. Được yêu thương cách hợp lý và sáng suốt, các em sẽ hấp thụ được tình thương đối với kẻ khác. Cứ xem gia đình Chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đủ rõ. Có những cha mẹ nóng nảy, cộc cằn, hay chửi bới, đánh đập con cái, vô tình đã dập tắt trong lòng con cái ngọn lửa thiêng của tình thương. Đến lượt chúng, chúng cũng sẽ ích kỷ, cộc cằn, nóng nảy, chửi rủa, đánh đập kẻ khác. Cha nào con nấy. Ngược lại, chúng sẽ bắt chước lối cư xử và ăn nói đầy tình thương của cha mẹ và của người lớn mà đối xử với những kẻ khác. Vậy ngay từ nhỏ, phụ huynh hãy tập cho chúng, để dần dần lớn lên, chúng sẽ biết hướng sự chú ý và lo lắng giúp đỡ các em út trong gia đình; rồi những kẻ nhỏ bé, yếu đuối hơn chúng cũng sẽ biết lo cho kẻ khác. Khoa tâm lý nhi đồng cho biết: các em tỏ ra rất sung sướng khi làm được một việc tốt cho kẻ khác. Hãy phát triển tâm tính đó thành một tập quán từ ở nhà, rồi sau này ở trường học, ngoài xã hội. Nào là biết cảm thương, biết đại độ, biết chia sẻ, biết giúp việc các anh chị, biết đỡ tay cho cha mẹ; tỉ dụ: đứa lớn đút cơm cho em ăn, mặc áo cho em, giữ em, đưa em đi chơi… Đã đành, các điều này thường vẫn thấy cha mẹ bảo các em làm, nhưng điều cần nhấn mạnh là tập cho các em yêu thích làm các việc đó như những cử chỉ của tình thương, chứ không phải vì cha mẹ bắt buộc, hoặc bảo phải làm, và làm cách vùng vằng, tức tối. Ngược lại, phụ huynh sẽ ghi nhận tất cả các dấu hiệu bắt đầu ló ra nơi con em về sự vô tâm, vô tình, không biết cảm thương, lãnh đạm trước những thiếu thốn hay đau khổ của kẻ khác; phụ huynh sẽ cương quyết bài trừ và tiêu diệt các mầm mống xấu đó nơi các em, nhất là bài trừ ngay những phát hiện về tính ác độc, phá hoại, chơi xấu, những thích thú làm đau đớn kẻ khác, tính phá phách, chia rẽ, xúi giục đánh nhau, gây gỗ, vv… Khoa thanh thiếu niên phạm pháp đã cho thấy bằng chứng với những con số thống kê hùng hồn điều này: một thiếu nhi hay thanh thiếu niên không được yêu thương trong gia đình, hoặc bất hạnh vì sống trong một gia đình lục đục, thiếu đoàn kết…, sự thiếu thốn ấy sẽ tạo nên một đời sống buông thả, đuổi theo khoái lạc, truy em các thoả mãn tội lỗi và bệnh hoạn, như để bù đắp lại các thiếu thốn tình yêu chúng phải chịu trước kia; tệ hơn nữa, đi đến cực đoan, chúng sẽ thành những kẻ phá hoại, dùng vũ khí cướp giật hay giết người… Nói như thế, thiết tưởng các phụ huynh đã lưu ý tầm quan trọng của điểm vừa nói đây. B/ Ra đến ngoài đường: Ở đây, những hình thức yêu thương, giúp đỡ người khác thật muôn hình vạn trạng như đã nói. Ta cứ tạm lấy bản kinh thương xác 7 mối mà chính Đức Giêsu đã nêu ra trong bài Tin Mừng làm căn bản. l/ Thứ nhất cho kẻ đói ăn, thứ hai cho kẻ khát uống: Nhu cầu căn bản và cấp bách nhất của con người là ăn uống. a/ Trong xã hội ta, vẫn còn nhiều người thiếu ăn, ăn không đủ no. Cảnh thường thấy nhất biểu lộ tình trạng đó là các người ăn xin nhan nhản trong phố xá, và đi qua cửa nhà ta. Ta hãy giúp đỡ họ: đồng tiền, bát gạo, miếng cơm, manh áo, tùy tiện! Đành rằng có nhiều người lười biếng, không chịu lao động, kiếm ăn bằng nghề ngửa tay đi xin. Nếu ta cứ nghĩ như vậy, ta sẽ không cho bất kỳ ai, rồi thành ra chẳng bao giờ cho ai cả. Trong số đó lại chẳng có những người thật nghèo đói ư? Cho nhiều, cho ít, ta cứ cho, để dành cho Chúa sự phán xét họ. Ta đã làm trọn luật Chúa, ta đã yêu thương và Chúa thấu việc ta làm là đủ. Ta có thể cho lầm, nhưng trước mặt Chúa không lầm, việc đó vẫn có giá trị là một việc yêu thương. Vả lại, người có lòng yêu thương dồi dào, đâu có xét nét, đắn đo quá như thế? b/ Sau những người ăn xin, còn biết bao hạng người thiếu ăn khác nữa quanh ta, trong khu phố, ấp, phường ta ở. Đừng đợi họ tới. xin. Nếu ta có tình thương, ta sẽ có con mắt để thấy. Tình thương có mắt. Người ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, sẽ không có mắt, không bao giờ thấy nhu cầu kẻ khác. Hãy nhớ bài dụ ngôn người giàu và Ladarô trong Lc 16.9tt: ông nhà giàu ăn bận lụa là, gấm vóc, tiệc tùng lu bù, còn La-da-lô ăn xin bị vất ở cổng nhà, đói đến độ muốn được một miếng thừa liệng dưới gầm bàn mà không được, thế mà ngày này qua ngày khác, ông nhà giàu đâu có thấy. Khi ông nhà giàu chết, ông bị phạt sa hỏa ngục vì tội gì? Không thấy nói ông có tội gì khác, mà chỉ vì tội không để ý đến người nghèo, không chia sẻ cho họ đỡ cơn đói khát. c/ Có những người nghèo ở gần, lại có những người nghèo đói ở xa ta hàng chục, hàng trăm cây số. Ta vẫn có thể giúp họ bằng cách gửi phần đóng góp của ta vào các tổ chức từ thiện, cứu tế… Nào nạn bão lụt, thiên tai mới đây ở phía Bấc tổ quốc, ở miền Trung… Nhìn rộng ra quốc tế, có nhiều người nghèo và chết đói ở Á châu, ở Phi châu… Theo tài liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc, mỗi năm có mấy chục triệu người chết vì đói. Ta có thương những anh em xấu số đó không? Nếu thương, ta đã làm gì giúp họ? Nhiều khi xem ciné hay ti vi, sách báo, thấy những cảnh sống xa hoa, thừa thãi quá mức, nhất là ở Tây phương, ta dễ nảy ra lòng căm tức: nhà ở quá sức lớn rộng, không biết bao nhiêu phòng ốc; bàn ăn dư thừa, bỏ mứa, đầy tủ lạnh, đầy kho… đến nỗi con chó của họ ăn còn sướng hơn một người bình thường của nước nghèo. Chả trách biết bao chiến sĩ cách mạng vì nhiệt tình yêu thương đồng loại nghèo khổ, đã nổi lên tranh đấu đòi cơm no, áo ấm, đòi công bằng trong xã hội. Tranh đấu vì tình thương, đó là họ đang có đạo Chúa, đang sống và thực hành đạo Chúa dạy trong điều cốt cán nhất của đạo. Đang khi ta là người có đạo, lại chỉ biết đi nhà thờ, dự lễ mà không biết yêu thương. Thử hỏi, ai là người thật có đạo? Ai làm đúng ý Chúa? Bài Tin Mừng ta vừa đọc trên cho biết: người này yêu thương, người ấy có đạo, cho dù họ không biết Chúa Giêsu. Họ nói: “Có bao giờ chúng tôi thấy Ngài…”, vì họ chưa biết Chúa. Thế thì họ thấy ai? Họ nói tiếp: “Chúng tôi chỉ thấy những người nghèo đói, mình trần, bị tù…, rồi chúng tôi giúp họ mà thôi”. Chúa vạch ra cho họ điều họ không ngờ, Chúa nói: “Ấy đó! Khi các ngươi giúp những người khốn khổ ấy, là các ngươi giúp chính mình Ta, dù các ngươi không biết đó là Ta. Hỡi các con! Vì thế, các con được Cha Ta chúc phúc. Các con đã yêu thương, vậy hãy vào hưởng hạnh phúc với Cha Ta, là Đấng vô cùng yêu thương mọi người. Để hiểu cặn kẽ điều này, xin mời anh chị em đọc bài thuyết trình của Linh mục Brê Bét-tô (Frei Betto), trong cuốn “Phi-đen (Fidel) và tôn giáo”, tr.56-66, và tr.67-73. Tín hữu VN ta, đa số, thường chỉ nghĩ đi đạo là đi nhà thờ, dự lễ, đọc kinh, đi xưng tội, chịu các phép Bí tích, giữ điều răn, vv…, toàn chuyện thiêng liêng và lo phần rỗi linh hồn mình. Những việc giúp về nhu cầu vật chất như nói trên, họ cho là những việc nhân đức, ai làm thì có công thêm, còn không làm, cứ đi dự lễ, đọc kinh… đủ lệ là rỗi linh hồn rồi! Nghĩ như thế là sai căn bản đạo Chúa! Không cần viện các chứng cớ khác trong Kinh Thánh nhiều vô số, chỉ cần nhắc lại bài Tin Mừng vừa đọc trên, và bài dụ ngôn Chúa dạy về người giàu và La-da-rô cũng đủ rồi. Ngày phán xét ấy, không thấy Chúa tra hỏi về đọc kinh, dự lễ…, mà chỉ hỏi: có yêu thương không, và yêu thương cụ thể bằng việc làm cho kẻ đói ăn, kẻ khát uống, kẻ trần trụi áo mặc… không? Sợ rằng Lời Chúa giảng còn chưa làm ta xác tín, xin lấy một chứng về việc làm của Chúa trong Tin Mừng Mc 6.32tt: Hôm ấy, Chúa giảng xong, có hơn 5.000 người theo nghe. Giờ đã muộn, và nơi đó lại hoang vu, các Tông đồ xin Chúa giải tán đám đông, để họ đi đến các thôn quanh đó mà tự mua thức ăn. Theo ý các Tông đồ, Chúa chỉ lo giảng điều thiêng liêng, lo việc rỗi linh hỗn, còn chuyện ăn uống là vật chất, mặc kệ người ta tự lo lấy. Ta có nghe Chúa đáp lại làm sao không? “Việc gì phải bắt họ đi, chính các con hãy cho họ ăn! “ Trời đất! Thày dạy chi lạ vậy? Chúng tôi là Tông đồ mà đi lo việc ăn uống cho người ta sao? Các Tông đồ nghĩ bụng như thế. Động trời hơn nữa là Thày lai bảo lo cho hàng ngàn người, thì lo sao được? Dĩ nhiên là các Tông đồ bó tay… Cho hơn 5.000 người ăn phải mấy xe vận tải lương thực cho đủ? Thấy thế, Chúa lại tiếp tục bảo: “Chưa chi, các con đã buông xuôi, nản lòng, thì hãy đi kiếm coi có thu lượm được chiếc bánh nào không, cứ đem tới đây!”. Chúa có ý dạy đừng vội nản chí, cứ cố gắng làm phấn mình, dù ít ỏi. Thiếu bao nhiêu, Chúa sẽ liệu sau. Thu nhặt được 5 cái bánh và 2 con cá đưa đến, nhưng bấy nhiêu có thấm tháp vào đâu! Chúa nhận lấy cái ít ỏi đó và Ngài đã từ cái chút ít ấy hoá phép ra vô số bánh đủ cho đám đông ăn no. Khi hoá bánh, Chúa còn đưa bánh phép lạ ấy vào tay các tông đồ, để các ông phát cho dân chúng ăn, hầu dạy các tông đồ phải là những người không chỉ lo việc thiêng liêng, mà còn là những người “lo cho người ta ăn” nữa, như Chúa nói lúc đầu. Kỳ sau sẽ tiếp về thương xác mối thứ ba. Khi suy niệm Lời Chúa trong giờ đền tạ này, rõ ràng gia đình ta còn thiếu sót nhiều trong việc thi hành đức thương người. Ta hãy xin Chúa thứ tha, và xin Chúa ban ơn giúp sức, để sau khi đã hiểu, ta đem ra thực hành cho trọn đạo Chúa. Tích truyện Câu chuyện sau đây có thật. Một bà kia, nhờ học Lời Chúa, đã hiểu bài Tin Mừng ta đọc ở trên: Chúa coi ai làm điều gì cho người nghèo là làm cho chính Chúa. Bà mới suy ra rằng: vậy Chúa ở trong người nghèo và đón tiếp người nghèo là đón tiếp Chúa. Một hôm, bà đang giữ cháu trong nhà, nghe có tiếng kêu xin của một người hành khất ngoài cửa. Bà nghĩ: mình bỏ cháu đi ra, nhỡ cháu ngã thì chết; song chợt nhớ Lời Chúa: “Ai thương cha mẹ, vợ con hơn Ta, thì không đáng làm môn đệ Ta!”. Chúa đến ngoài cửa, ta thương cháu hơn Chúa là không được. Nghĩ vậy, bà liền đặt cháu cẩn thận rồi bước ra. Gặp người ăn xin, bà rút túi 10 đồng (hồi trước 10 đồng ấy to lắm) và lấy cả hài tay cầm dâng lên cho ông ăn xin, như thể bà dâng lên cho Chúa vậy. Cầm lấy tiền, ông hành khất rưng rưng nước mắt nói: – Từ khi tôi đi ăn xin, người ta cho tôi cũng nhiều, nhưng tôi chưa thấy ai cho tôi không những nhiều như bà, mà nhất là còn cho với một cử chỉ tôn trọng như vậy. Thật thi hết sức cảm động.

See also  Scouting Jets quarterback Aaron Rodgers

BÀI LỜI CHÚA 30 THƯƠNG XÁC BẢY MỐI (TIẾP)

Trích Tin Mừng Thánh Luca 16-19tt Hôm ấy, Chúa Giêsu nói ngụ ngôn này để cảnh cáo những ai ích kỷ, không thương người khốn khổ khác. Xưa, có một ông nhà giàu, ăn mặc toàn hàng xịn, tơ lụa đắt tiền, ngày ngày cỗ bàn cao lương mỹ vị, ăn uống thoả thuê. Lại có người ăn mày tên La-da-rô, người ta vất bỏ bên cổng nhà ông, mình đầy lở lói bụng đói như cào, những mong lượm được miếng cơm thừa canh cặn ăn cho đỡ đói lòng, mà không ai cho… Chỉ có con chó hoang đến liếm mụn nhọt. Rồi một hôm, người ăn mày chết và được các thiên thần đem lên thiên đàng, dự tiệc cùng thánh Tổ phụ A-bra-ham. Ông phú hộ cũng chết, nhưng bị rơi xuống hoả ngục. Giữa những cực hình, ông ngẩng mặt lên, thấy trên kia, La-da-rô đang hưởng phúc, liền kêu to: – “Lạy cha A-bra-ham! Xin thương xót tôi với! Xin sai La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ xuống lưỡi tôi cho mát chút xíu, vì tôi đang bị quằn quại, thiêu đốt trong ngọn lửa này”. Nhưng A-bra-ham nghiêm nghị đáp: – Hỡi kẻ ích kỷ vô tâm! Suốt đời ngươi đã sung sướng, ăn uống no nê, quần là áo lượt, bao nhiêu cái ngon, cái đẹp, ngươi hưởng hết; còn La-da-rô thì đã chịu bao đau khổ, nào đói khát, nào bệnh tật, rách rưới… Lúc ấy, ngươi có nhớ lấy chút xíu bánh hay rượu mà thấm miệng La-da-rô cho đỡ đói, đỡ khát chăng? Vậy bây giờ, tình thế đảo ngược: La-da-rô được hạnh phúc, còn ngươi phải quằn quại đau đớn, âu cũng là lẽ công bằng. Vả lại, bây giờ giữa ngươi và chúng ta, không còn có thể qua lại, giúp đỡ nhau gì được nữa, vì có một vực thẳm ngăn cách hai bên. Có giúp đỡ nhau gì thì giúp ngay khi ở trần gian, chứ bây giờ thì vô phương. Người ấy lại nói: – Thôi, phận con đành vậy! Nhưng con có 5 anh em còn sống. Xin Cha sai La-da-rô đến nhà răn dạy chúng đừng sống như con mà phải hoạ đời đời. A-bra-ham môi nói: – Chúng đã có Lời Chúa, có sách Kinh Thánh, có Tin Mừng dạy, cứ việc nghe và thực hành! – Thưa Cha A-bra-ham, không đâu! Chúng cứng lòng lắm! Hoạ may có ai từ cõi chết hiện về bảo chúng, chúng sẽ hối cải. A-bra-ham lắc đầu: – Ôi! Nếu chúng không nghe Lời của chính Chúa dạy, thì cho dẫu kẻ chết có hiện về bảo, chúng cũng chẳng nghe đâu! * Đó là Lời Chúa! – Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa! Suy niệm Lời Chúa Chúng ta đây đang nghe Lời Chúa Giêsu kể ngụ ngôn này. Chúng ta có là những kẻ ích kỷ vô tâm, chỉ lo cho thân mình, không biết nghĩ thương đến kẻ khác chăng? Chúng ta có cứng lòng, nghe Lời Chúa dạy như thế mà vẫn không thay đổi lòng ích kỷ thành tình thương yêu chăng? Hay chúng ta chờ người chết hiện về bảo mới nghe? Hôm nay, ta bàn tiếp các mối thương xác, để biết mà thực hành những Chúa dạy. Mốí thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc: Đi giữa phố, thấy ai cũng quần là áo lượt, mốt nọ mốt kia, ta tưởng cảnh rách rưới, không còn nữa, hay chỉ nơi những người ăn xin, cố tình vá chằng vá đụp để gợi lòng thương của người khác. Thôi, đừng nhìn ngoài phố, hãy nhìn quanh khu xóm…, ta vẫn còn nghe có kẻ nói: “Chúa nhật, tôi không đi dự lễ vì không có áo!”; vẫn còn thấy mùa đông, có người mặc chưa đủ ấm; vẫn còn có gia đình không đủ chăn mền đắp, thiếu mùng màn tránh muỗi cho con nít, cách riêng để khỏi sốt rét, sốt xuất huyết, vv… Nói rộng nữa, vẫn có những người thiếu nhà, vẫn còn những người chui rúc các ổ chuột…, sống không ra con người. Nhìn vào trong nhà, nếu để ý, ta sẽ thấy có quần áo, mùng mền… dư thừa, hoặc không dư, song có khả năng sắm cái mới và cho các đồ cũ. Hãy gom góp lại một chỗ sẵn, để có thể cho đi. Không để ý làm như thế, chợt lúc có ai xin, hay ta định cho, ta sẽ lúng túng và bỏ lỡ dịp. Có những người quá keo kiệt, không bao giờ nghĩ rằng có thể cho ai được manh áo cũ, vì áo quần cũ, họ vẫn cần để… lau nhà! Đó là cách xử sự của những người không có chút tình thương nào trong tim cả. Lại có nhiều người khác hoàn toàn không cho ai quần áo cũ, chỉ vì không có thói quen, không ý thức vấn đề, không để ý… Dân chúng đến hỏi ông Gioan Tẩy Giả: – Chúng tôi phải làm gì, sinh hoa quả việc lành phúc đức nào để xứng với lòng hối cải, hòng tránh khỏi cơn thịnh nộ của phán xét Thiên Chúa? Ông Gioan đáp: – Kẻ có hai áo hãy chia cho người không có, và ai có miếng ăn, cũng hãy làm như vậy! (Lc 3.10-11). Nghĩa là cách sám hối, đền tội hay nhất là thắng ích kỷ, chỉ biết lo cho mình no đủ. Quả thực, như nhà chú giải Kinh Thánh kia nói: “Có việc đền tội nào tốt hơn sự tự bắt mình phải bớt chút của cải (ở đây là bớt quần áo, đồ cũ), mà thường chúng ta dính bén quá mức?” (Pirot). Từ xưa, các tiên tri đã dạy như thế: “Thiên Chúa phán: ăn chay, đền tội, hãm mình, phạt xác đâu chỉ là rắc tro trên đầu, mặc áo vải gai thô nhặm? Ăn chay, đền tội mà Ta mến chuộng là thế này: chia sẻ miếng cơm cho người đói, cho kẻ vô gia cư trú ngụ, thấy ai mình trần, rách rưới, ngươi cho áo che thân, ngươi không tránh né giúp đỡ cho đồng bào ruột thịt ngươi” (Ys 58.5-7). Trước lòng chai dạ đá của người có của mà ích kỷ, Thánh Tông đồ Giacôbê nói những lời hăm doạ nghe mà toát mồ hôi lạnh: “Này! Những kẻ có của, hãy khóc đi! Rú lên vì những khốn khó sắp giáng xuống trên các ngươi. Của cải các ngươi tích trữ (không đem ra bố thí), của cải đó đã ra mục nát. Áo quần các ngươi xếp trong tủ, trong rương (không chịu phân phát cho kẻ mình trần), áo quần đó đã để mọt gặm. Tiền bạc các ngươi cất kỹ trong két sắt hay chôn giấu dưới đất, tiền bạc ấy đã bị sét rỉ! Ấy đó, tất cả những mục nát, mọt gặm, sét rỉ ấy sẽ làm chứng tố cáo tội ích kỷ các ngươi, chúng sẽ ăn thấu xương thịt các ngươi, bởi vì tích trữ mà không biết chia sẻ, vô hình trung, các ngươi đã tích trữ lửa hoả ngục để thiêu đốt các ngươi trong ngày phán xét” (Gc 5.1-3). Mối thứ tư: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc: Đây là những hạng người không có phương tiện để tự mưu sinh. Ốm đau nằm một chỗ, hoặc bị giam tù làm sao kiếm sống được? Vậy mối thương người này bảo ta phải viếng thăm họ. Không chỉ thăm suông, mà nếu có phương tiện, thăm và nuôi nữa. Trong những hoàn cảnh đau buồn ấy, họ rất cô đơn, cần sự an ủi, nâng đỡ, cả tinh thần lẫn vật chất. Có thể đem đến cho họ an ủi của Lời Chúa, của sách thiêng liêng. Ở những nước khác trên thế giới, có những thanh niên nam nữ, ngay cả thiếu nhi, tình nguyện hi sinh thời giờ vui chơi, làm ăn, kiếm tiền… đề đến thăm viếng các bệnh viện, phục vụ bệnh nhân và đỡ tay cho y tá, mỗi tháng một lần, vì công việc của họ quá bề bộn, nặng nề.,. Còn ở đất nước mình, chừng nào có thể (tỉ dụ phải được phép của ban quản lý bệnh viện nếu đi đông và khá đều đặn), cũng nên cùng nhau đi thăm các trại cùi, bệnh viện, nhà tế bần… Biết bao việc có thể làm, dù nho nhỏ, song cụ thể: gội đầu, hớt tóc, xếp giường chiếu, rửa chén bát cho bệnh nhân, viết thư và gửi thư giùm, nhắn tin, biếu sách báo để giải trí hoặc để bồi bổ tinh thần, biếu những món quà nhỏ hoặc thuốc men, vv… Đối với tù nhân, vấn đề cũng tương tự, song có phần phức tạp hơn nhiều. Trong những trường hợp tù oan, hoặc đang bị cầm giữ đợi ngày xét xử, nếu có cách giúp để được trả tự do, thật là quí! Ở đây, có thể bước sang mối phúc thứ sáu: chuộc kẻ làm tôi. Ngày xưa, thời Trung Cổ, các hiệp sĩ có lý tưởng “thế thiên hành đạo” như các võ sĩ nghĩa hiệp của ta, họ giải thoát tù nhân hay con tin bị bọn thảo khấu bắt giữ…, can thiệp chống cường hào ác bá để giải phóng những kẻ thân cô thế cô, thấp cổ bé miệng. Thánh Vinh Sơn Phaolô chuyên lo tìm cách chuộc kẻ làm tôi, có lần chính Ngài tự nguyện thế chân cho một tên nô lệ chèo đại chiến thuyền… Cha Kôn-bê (Kolbe) tự nguyện chết thay cho một tù nhân ở trại tập trung Đức Quốc Xã. Mối thứ năm: Cho khách đỗ nhà: Ngày nay, vấn đề này quả rất khó thực hành. Không chỉ do vấn đề hộ khẩu, mà còn do kinh tế eo hẹp, nhất là do con người ngày nay quá dối gian, độc ác, nghĩ ra trăm mưu ngàn kế đế lường gạt…; cho nên người ta đâm sợ làm phúc thành mang hoạ vào thân…, ngay cả đối với họ hàng hoặc quen thuộc cũng vậy. Tuy thế, việc cho khách lạ trú ngụ thật là việc bác ái rất đáng cổ võ, nhất là trong dịp hoạn nạn như chiến tranh, cháy nhà, lụt lội… Nhưng ai vượt nổi mọi e sợ, cho trú ngụ với sự ân cần, niềm nở, chứ không cau có, với tình yêu thương, săn sóc, chứ không lãnh đạm, sống chết mặc bay: người ấy thi hành một việc thương người lớn lao. Họ đã làm cho chính mình Chúa vậy, như Chúa Giêsu đã dạy thế. Còn thánh Phêrô nói: “Đức mến phủ lấp, xoá sạch vô vàn tội lỗi” (1Pr 4.8 Thánh Phaolô thì bảo: “Có ké nhờ đó mà không ngờ đã tiếp đón thiên thần làm khách trọ” (Hr 13.2). Ý nhắc đến tích chuyện ông Abraham cho ba người thanh niên trú ngụ và đãi cơm, không ngờ đó là các thần sứ trên trời xuống chúc phúc cho ông được sinh con trai. Nới rộng ra hơn: mối thương người này còn nhằm giúp đỡ những người lạc đường, lạc lõng, bơ vơ, cô thân cô thế…, giúp một người mới bước vào xí nghiệp, công xưởng, đơn vị mình, hoặc mới tập tễnh bước vào nghề…, ân cần chỉ bảo, giúp phương thế cho họ thành công, thành tài… Đó cũng là những việc bác ái lớn. Mối thứ bảy: Chôn xác kẻ chết: Với một thi thể đã chết, mà cũng thi hành bác ái ư? Tại sao vậy? Thưa: vì tin vào sự sống lại của thân xác: xác sống lại ngày sau hết, hợp với hồn mà hưởng phúc với Chúa. Giáo Hội làm phép xác, dâng lễ cầu hồn và an táng cách tôn kính, cũng vì coi đó là xác thánh, chứ không phải là một thây ma vô hồn như xác trầu bò, chết là hết. Không ai không tôn trọng thi hài người đã chết, cho dù người vô tín ngưỡng, vô tôn giáo đến đâu cũng vậy. Cửng như người Do thái thời xưa, chết mà không được chôn cất tử tế nơi phần mộ gia đình là một ô nhục, bất hạnh. Giúp chôn cất xác vô thừa nhận như ông Tôbi làm ngày xưa là một việc nghĩa rất lớn. Chính Chúa tán dương người phụ nữ đập bình bạch ngọc, xức dầu thơm cho thân thể Chúa, vì Chúa cho rằng bà ấy linh cảm trước là Chúa sẽ bị chết như một phạm nhân, và không được phép chôn táng tử tế, nên bà ấy đã xức dầu để liệm táng xác Chúa trước đi (Mt 16.12). Ngày nay, vấn đề chôn xác ấy ít xảy ra cho ta. Nhưng ta có thể thực hành cách khác: chẳng hạn giúp kẻ sắp sinh thì: đến đọc sách dọn mình chết lành cho người già cả, ốm nặng, hấp hối; mời linh mục cho họ chịu các phép sau hết; hoặc trong phường xóm có ai qua đời, họp nhau đến cầu hồn, cầu lễ… Những giúp đỡ cách này, cách khác cho tang gia bối rối là rất quí khi giúp đỡ vô vị lợi. Nhiều nơi có thói tục rất ngoại đạo là mở ra ăn uống, nhậu nhẹt… trong cảnh ma chay ấy gây ra những điều nghịch mắt, chướng tai: trong nhà thì đọc kinh và khóc lóc, ngoài sân thì nhậu nhẹt, cười nói, rượu vào lời ra… Nhiều người cho ta cảm tưởng là họ đi tìm miếng ăn nơi đám ma. Cụ Phan Kế Bính có lần than rằng: “Than ôi! Việc tử biệt là cảnh rất đau buồn, còn người đến trợ giúp nhà tang là một nghĩa vụ xã hội. Khi người ta đau đớn, có thể giúp được việc gì thì giúp, còn tưởng gì đến sự ăn uống. Phần hiếu chủ thì đang lúc buồn bã, âu sầu, còn bụng dạ nào nghĩ đến việc thù tiếp. Vậy mà ép cho người ta phải cỗ bàn khoản đãi, thì cái nghĩa vụ cứu giúp nhau ở đâu?” (trích “Việt Nam phong tục”, tr.185). Một người ngoài đạo mà còn nói được như vậy! Nghĩ tình đời thật đen bạc: lúc người ốm nằm hấp hối thì không có ai, dĩ chí người trong gia đình cũng lơ là… Thế mà người ốm vừa thở hơi cuối cùng, thì cả một “kỹ nghệ khai thác xác chết” nổi dậy hoạt động tấp nập, ầm ĩ, nào đòn đám ma, nào phường kèn, nào mổ heo, mổ gà, nào ăn uống, vv… Có những tục lệ ngoại đạo từ ngoại giáo du nhập vào lễ an táng của người công giáo, song không thể chấp nhận được. Có nhiều lắm, chỉ kể ra đây một hai điều. Như thấy ở nơi nọ thuê dàn kèn đám ma, con hát về khóc mướn theo tiếng kèn ò e, í e…, khóc sao có bài bản thật hay thì được thưởng tiền… Có người bắt chước ngoại giáo, đi đưa linh cữu mà lăn lộn ngất xỉu trên đường trước quan tài, hoặc lăn nhào xuống huyệt… như muốn chết theo; hoặc làm ma chay thật linh đình để lấy tiếng khen, khoe của, khoe công, mà ngờ đâu đạo hiếu của người ấy chỉ là che mắt thế gian, lúc người ốm còn sống thì đối xử tàn tệ bạc đãi, đến nỗi có câu ca dao chế rằng: “Còn sống thì không cho ăn, Chết đi cúng kiếng làm văn tế ruồi”. Những thói tục ấy chẳng lợi gì cho linh hồn người quá cố, mà còn biểu lộ một sự yếu kém đức tin trầm trọng về số phận của linh hồn người chết nơi thế giới bên kia. Cho nên, thánh Phaolô dạy: “Tôi những muốn để anh em không biết chút gì về số phận những người đã chết, ngõ hầu anh em đừng buồn phiền, sầu não như kẻ không có đức tin và không có niềm hi vọng vào sự sống lại. Đây tôi cho biết: những ai chết trong ơn nghĩa Chúa, Thiên Chúa sẽ cho họ ở làm một với Chúa Kitô… Rồi ngày sau, lúc Chúa Tái Lâm, những kẻ đã chết sẽ sống lại… và chúng ta tất cả sẽ được lên ở với Chúa mãi muôn đời, (1Tx 4.13-17). Tích truyện Một câu chuyện vui cười về chôn xác kẻ chết: ông già ốm nặng sắp chết, nằm thoi thóp. Ở phòng bên cạnh, các con ông bàn tán việc lo liệu ma chay. Anh nào cũng keo kiệt, không muốn bỏ tiền để làm ma cho ông. Kẻ thì bàn: mua cho ông chiếc hòm thật rẻ. Kẻ khác nói: không nên thuê xe tang có ngựa kéo, tự ta khiêng quan tài đi chôn cũng được. Nghe họ bàn vậy hoài, ông già gợi các con lại bảo: – Thôi, để tao đi bộ la nghĩa địa mà chết ngoài đó cho rồi!

BÀI LỜI CHÚA 31 NGƯỜI ĐÀN BÀ SÁT NHÂN

Trích sách 1 Các Vua, ch.21 Hồi nước Pha-lê-tin chia đôi sơn hà, có vua Vương quốc miền Bắc, tên A-kháp, thèm muốn vườn nho của Na-bốt. Vườn nho này nằm sát cạnh hoàng cung. Vua bèn nói với Na-bốt: – Để lại vườn nho của ngươi cho Trẫm, để Trẫm làm vườn ngự uyển. Trẫm sẽ cho ngươi vườn nho khác tốt hơn, hay nếu ngươi muốn, Trẫm sẽ trả giá cao. Na-bốt đáp: – Vườn nho thường tôi không dám tiếc Vua. song đây là cơ nghiệp tổ tiên, nếu nhượng cho Vua, ấy là một sự gở, một phạm thượng. Quả thế, trong dân Israen có lệnh Chúa truyền: “Đất Chúa đã phân chia cho chi tộc nào làm cơ nghiệp, không được phép luân chuyển qua chi tộc khác, phải bám lấy phần cơ nghiệp tổ tiên mình” (x Ds 36.7; Lv 25.13). Vua A-kháp về cung, lòng hầm hầm tức giận. Ông nằm xuống giường, quay mặt đi mà chẳng chịu dùng bữa. Hoàng hậu Is-sa-ben hỏi: – Cái gì khiến ông bực tức mà không chịu dùng bữa? Ông liền kể lại chuyện vườn nho Na-bốt. Vợ ông mới nói: – Thật rởm cái trò làm vua của ông! Thôi dậy dùng bữa cho lòng khuây khỏa, rồi xem tôi đây, tôi sẽ lấy vườn nho ấy cho ông không tốn một đồng bạc. Rồi bà lấy danh Vua, viết sắc dụ bí mật, lấy ấn vua đóng vào, sai người gửi đến hàng kỳ mục của thành Na-bốt đang ở. Kỳ mục, nhân sĩ chiếu theo sắc dụ ấy thi hành: họ mở tuần chay, đặt Na-bốt làm chủ sự. Đang khi ẩy, có hai đứa vô loài, đứng lên làm chứng gian cáo tội Na-bốt rằng: – Na-bốt đã nguyền rủa Thiên Chúa và Đức Vua của mình. Sau khi vờ xét xử, người ta đã điệu ông ra ngoài thành ném đá chết. Rồi sai người báo cho bà I-sa-ben tất cả công việc. Được tin ấy I-sa-ben nói với vua: – Xin ngài hãy đi tịch thu vườn nho của Na-bốt, vì nay hắn đã hết sống! Nhưng Thiên Chúa bênh vực kẻ yếu hèn. Người sai tiên tri Ê-ly-a đến tại vườn nho ấy, trách phạt Vua A-kháp: – Há ngươi đã giết người, lại còn tịch thu gia sản nữa sao? Yavê phán: “Chính nơi chó đã liếm máu Na-bốt, chó cũng sẽ liếm máu của ngươi nữa”. Còn về I-sa-ben, Thiên Chúa cũng phán rằng: “Chó sẽ ăn thịt nó bên tường thành. Còn người nhà của A kháp, kẻ chết trong thành thì bị chó ăn, kẻ chết ngoài đồng thì bị chim trời rúc rỉa”. Quả thật, sau này đã xảy ra y như lời Thiên Chúa đã đe phạt. * Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ngày Xưa, thời Cựu Ước, khi Thiên Chúa trực tiếp cai trị dân riêng của Người, Người vẫn thường bênh vực kẻ bị hà hiếp bằng những hình phạt tỏ tường. Điều ấy cốt để răn dạy chúng ta, những người đời sau. Ngày nay, thỉnh thoảng, Thiên Chúa còn ra tay đánh phạt như thế, nhưng họa hiếm. Bây giờ, loài người đã được coi như trưởng thành, hãy cứ theo luật Chúa truyền mà làm, lớn rồi, biết suy, biết nghĩ rồi. Tội phúc loài người làm, sau này sẽ có phán xét phân minh. Thưởng phạt sẽ có chắc chắn, không tránh khỏi, song tất cả dành lại sau này. Chính bài học về phần phạt Chúa dành cho kẻ ác, không biết thương người, sẽ giúp chúng ta tiếp tục học về thương xác bảy mối. Kỳ này, ta đề cập đến các điều phải tránh, tức là các điều nghịch với đức thương yêu, giúp đỡ người ta. 1/ Những cách thức không nên làm khi thi hành bác ái: Chẳng hạn thương người để được người nhớ ơn, đáp đền, hay để biến họ thành kẻ đời đời thụ ơn mình. Gặp bất cứ dịp nào, ta kể lể công ơn mình ra. Gặp trường hợp họ không cư xử vừa ý, thì ta trách: đồ vô ơn bạc nghĩa…, mình làm ơn cho nó bao nhiêu, mà nó đã không đền ơn thì chớ, lại còn hỗn láo với mình”. Như thế, việc bác ái mình làm trước đó không còn giá trị nữa, bề ngoài tưởng là bác ái, kỳ thực bản chất nó là việc mưu cầu ơn nghĩa, bây giờ nó mới lộ ra. Bởi đó, thánh Phaolô dạy một câu mà thoạt nghe, ta không hiểu: “Giả như tôi đem cả gia tư, vốn liếng mà phát chẩn, và giả như tôi nộp mình chịu thiêu, mà tôi lại không có lòng mến (túc bác ái), thì cũng hư không, vô ích cho tôi” (1Cr 13.3). Trộm nghĩ: Lạ thật, đem của cải bố thí phát chẩn, ai cũng cho là hành động yêu thương, bác ái, mà Thánh Phaolô lại nói là nếu không có lòng bác ái thì sẽ thành vô ích! Bây giờ ta đã hiểu: có thể bố thí vì những ý nghĩ xiên xẹo, chứ trong lông không có tí tình thương người. Tỉ dụ bố thí để lấy tiếng khen, cúng của xây nhà thờ để ghi sổ vàng, ra điều ta hào phóng, ta giàu tiền lắm của, ta có công với Chúa, vv. Cứ thế, bao nhiêu việc bác ái ta làm, rất nhiều cái không phải vì Chúa, mà vì chính mình ta và để tôn mình lên. Tất cả đều vô ích, hư không trước mặt Chúa. Ngay cả khi có người làm phúc, bố thí để cầu mong Chúa ban ơn này, ơn nọ, cũng không thật là việc làm vì lòng mến: tỉ dụ có người bố thí rất rộng rãi, hỏi ra mới biết làm vậy để mong Chúa động lòng cho mình vượt biển an toàn, mạnh khỏe. Biết như vậy, nên Đức Giêsu dạy: Nếu các ngươi cho vay mượn – xem ra là việc thương người – nhưng để hòng trông được điều này điều nọ đáp đền, thì ngươi có làm gì gọi là việc ơn nghĩa đâu?” (Lc 6.34). Làm bác ái phải vô vị lợi, không trông báo đền, không mong đáp lễ, như Chúa dạy: “Các con hãy thi ân, hãy cho vay mượn, cho dù không trông báo đền. Và phần thưởng các con sẽ lớn lao…, các con sẽ là những người con của Đấng Tối Cao, vì Người nhân lành cả với những kẻ vô ơn, độc ác…” (Lc 6.35). Chúa còn dùng một hình ảnh rất đáng ghi nhớ để căn dặn về điều ấy: “Khi các con làm việc lành, bố thí, thì tay trái đừng biết việc tay mặt làm, ngõ hầu việc bố thí ấy chỉ có mình Chúa Cha trên đời biết, và Cha các con, Đấng thấu suốt nới kín ẩn sẽ hoàn trả lại cho các con…”. Chúa có ý dạy: khi làm việc lành phúc đức, thì chính mình cũng làm như là không hề biết đến nó; đừng ngắm nghía nó, sẽ dễ đâm ra tự hào, tự đắc, sẽ dễ vênh vang… Hãy quên đi, coi như ai khác đã làm chứ không phải mình. Hãy để Chúa Cha thấy và nhớ nó mà thôi. Nếu có nhớ, hoặc ai nhắc nhớ, mình thành tâm nói tự đáy lòng: Tôi là đầy tớ vô dụng, tôi chỉ làm điều bổn phận tôi phải làm, nào có công đức gì đâu! Thêm một điều nên lưu ý: khi làm ơn, giúp đỡ ai, đừng dùng cử chỉ, lời nói nào cứng cỏi, bất nhã, hoặc làm họ nhục nhã, đau đớn, tủi hổ trong lòng. Tỉ dụ: “Đó là vì Chúa mà tôi giúp anh, chứ không thì đừng hòng”. Té ra vì Chúa mà ta thương, chứ không thương chính mình họ. Ngược lại, Chúa dạy: hãy thương họ như chính mình Chúa: “Hễ các con làm sự gì cho một trong những kẻ hèn mọn nhất, là làm cho chính mình Thày”. 2/ Thái độ cội nguồn của sự thiếu bác ái là LÃNH ĐẠM và ÍCH KỶ: Phải chiếu theo ánh sáng Phúc Âm mới thấy rằng nguồn gốc của biết bao tội lớn nhỏ là ta phạm đến đức thương yêu là sự ích kỷ và lãnh đạm. Đó là các tội tiêu cực, nghĩa là mắc tội vì đã không làm điều đáng lẽ phải làm. Trong Kinh thú tội trước khi dâng lễ, ta đọc rằng: “…và những điều thiếu sót, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Câu kinh ấy dịch như thế quá nhẹ, nhiều người lầm là những sơ hở, thiếu sót đôi chút, qua quít, không ăn nhằm gì. Kỳ thực, xét cho thấu đáo, thì đâm giật mình vì có khi ta đã thiếu sót, bỏ chẳng làm những điều to tầy đình. Ích kỷ và lãnh đạm làm ta đi qua trước đau khổ cùng cực của đồng loại mà không thấy, không ý thức. Ta cư xử không khác gì Ca-in, kẻ giết em: “Tôi có phải là kẻ canh giữ em tôi đâu?”, nghĩa là: tôi đâu có trách nhiệm, đâu có phải phận sự tôi săn sóc, để ý đến anh em đồng loại? Lời nói bi thảm ấy đã xuyên suốt qua dòng lịch sử và vẫn vẳng lên cật vấn lương tâm mỗi người chúng ta: chúng ta có ích kỷ, có lãnh đạm không? Thì cứ thử xét mình có nói những câu như sau không: “Người nào có thân, người ấy lo!” – “Người khác, mặc xác họ, không can gì đến tôi” – “Bác ái đúng chỗ là yêu thương mình trước hết!” – “(Mỗi người tự xoay xở lấy!” – “Chúa lo chung, mỗi người lo riêng mình” – Người ta kể rằng một sinh viên Ấn độ, du học bên Đức, anh không chịu sắm cho mình bất cứ tiện nghi, sung sướng nào, không cho phép mình tham dự bất cứ sự vui chơi, tiêu khiển nào không do bổn phận bắt buộc. Hỏi anh tại sao, anh đáp: “Khi nghĩ đến cuộc sống khốn khổ của đồng bào tôi bên quê nhà, tôi cảm thấy khống thể! Đơn giản có thế thôi!”. 3/ Những hành động và thái độ phương hại đến sự sống, thân thể và sức khoẻ người khác: Như I-sa-ben giết Na-bốt, như Ca-in đến tấn công và sát hại em mình, thì người ta cũng gây hấn, sát hại, đả thương trực tiếp hay gián tiếp tự tay mình hay nhờ tay người khác (như chuyện Kinh Thánh kể trên), hoặc chụp mũ, vu cáo, vv… Nói tóm, tất cả những cách thức gây ra sự chết hoặc thương tích cách bất công, vô cớ cho người khác… Điều này, ta đã nói ở bài Lời Chúa 24. Ở đây, chỉ gợi thêm vài điều bổ túc: a/ Ta có thể làm hại mạng sống hay thân thể người khác bởi bất cẩn hay lười biếng. Chẳng hạn bác sĩ hay y tá bắt mạch ẩu, sai bệnh, hay cho thuốc khống đúng, mổ không sành nghề, vv…; xây nhà bớt xén vật liệu, nên dễ đổ sụp; bắt điện ấu thả, vv… Những thương tích ta gây ra có thể kéo theo nhiều hậu quả khó lường: như khí nạn nhân phải vào bệnh viện điều trị, biết bao đau đớn, biết bao phí tổn thuốc men, có khí còn phải bỏ học lỡ cả một năm, hoặc phải tàn tật suốt đời. b/ Có thể gây tai hại cho sức khoẻ hoặc thân xác người khác còn bởi nhẹ dạ, thiếu suy nghĩ hoặc hùa theo lối sống hay cách làm sai trái của người đời, riết rồi để mặc buông trôi. Tỉ dụ buôn bán thuốc giả, xi măng trộn tro, buôn bán đồ gây hại sức khỏe như cần sa, ma tuý, bán đồ hộp hư thối, trái cây đã hư hỏng, gây ô nhiễm trầm trọng, xả rác, bỏ xác chuột chết ngoài lộ, xả khói lò hơi độc tràn lan trong khu vực, không bảo đảm an toàn lao động cho công nhân…, vặn nhạc, loa phóng thanh ồn ào, mất yên tĩnh, gây căng thẳng tinh thần, mất nghỉ ngơi cho ngườí khác, vv.., Gần đây, báo chí báo động có hiện tượng xảy ra đi các nhà hàng, quán ăn, sản xuất chế biến thực phẩm, vì muốn làm cho đồ ăn đẹp mắt, hấp dẫn, người ta bôi tẩm các dầu, mỡ kỹ nghệ thay cho dầu ăn, mỡ động vật, vv… Năm 1959, gần 10.000 người Marốc bị liệt bại chỉ vì ăn phải dầu kỹ nghệ mà một nhà buôn kia làm giả dầu ăn. c/ Xem ra có vẻ vô hại cho sức khỏe, những lời nói cay độc, bất công, cứng cỏi, chửi rủa, lăng nhục. Kỳ thực, làm cho đau đớn, buôn tủi, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe không phải ít. Ca dao ta có câu: “Roi song đánh đoạn thế thôi, Một lời xiết cạnh muôn đời không quên”. Có nhưng người bị chế diễu vì tàn tật đã buồn đến nỗi muốn quyên sinh. Có những bà mẹ chết vì có đứa con hình dáng hoặc tâm trí bất bình thường. Có những đối xử bất công, những thái độ cố tình lãnh đạm, lạnh nhạt, thiếu tình người, thái độ vô tâm, vô tình cũng gây ra thững vết thương lòng, phương hại đến sức khỏe và mạng sống kẻ khác. 4/ Việc bồi thường: Giáo lý đạo Chúa rất công bằng, gây thiệt hại phải bồi thường. Đa số người tín hữu quên mất điều này, chỉ nghĩ đi xưng tội, Chúa tha là xong hết. Cũng có người biết, song viện mọi lý do để trốn tránh, vì việc bồi thường rất tốn kém, mất thì giờ, đôi khi còn nhục nhã. Nhưng chính việc phải bồi thường mới làm ta ý thức rõ hơn về tính cách quí báu của mạng sống, sức khỏe và thân thể con người. Bồi thường, trước hết các phí tổn trực tiếp, ví dụ gây thương tích, thì phải chở người ta đến bệnh viện, trả tiền thuốc men…, mà còn phải bồi thường gián tiếp các thiệt hại từ tai nạn lôi kéo theo: thiệt hại do phải nghỉ việc, không có lương… Thường thì nhờ thỏa thuận và thông cảm của nạn nhân và gia đình, nên nạn nhân cũng không nỡ đòi phải bồi thường, có khi suốt đời như đáng phải chịu. Dầu sao, bổn phận và lương tâm của người gây tai nạn phải biết nghĩ đừng để nạn nhân và gia đình quá thiệt thòi. Dĩ nhiên, có những trường hợp mất mát không thể lấy lại, như làm sao tiền của đền bù được nỗi mất cha, mất mẹ, mất con… Vậy, tùy khả năng phải săn sóc các con cái mồ côi cho đến tuổi trưởng thành… Chúng ta dâng một lời cầu nguyện sau: “Lạy Chúa! Suy niệm giáo lý của Chúa, gia đình chúng con nhận thấy sai lỗi nhiều điều. Xin Chúa thứ tha và giúp chúng con xứng đáng ơn tha thứ bằng cách tuân hành luật thương xác bảy mới mà Chúa và Hội Thánh dạy. Amen!”Tích truyện Năm 1964, dịp Đại hội Thánh Thể ở Bom-bay (Ấn độ), Đức Giáo Chủ Phaolô V đã qua làm chủ lễ và chính thức thăm nhân dân Ấn. Ngài đã chiếm được quả tim của mọi người, đa số theo Ấn giáo, Phật giáo và Hồi giáo, vì đã có một tâm hồn vô cùng quảng đại và tế nhị. Nhân dân Ấn nhắc đến Ngài không ngớt và gọi Ngài là Gan-Dhi của Tây phương. Họ còn nhớ mãi những cử chỉ Ngài đã làm trong chuyến viếng thăm: như tặng 5.000 đô la cho gia đình một phóng viên Ấn bị chết vì tai nạn trên đường phận sự; như ngồi ăn chung một ghế với các cô nhi và với khẩu phần ăn y như của chúng; như tặng nguyên chiếc xe hơi chính thức của Ngài cho một nữ tu Bác Ái để lo việc từ thiện, để rồi chỉ dùng một xe díp (jeep) đi đây đó thăm viếng; như ký chi phiếu 500 triệu franc (tiền Pháp) để giúp các kẻ nghèo; như nhờ các phóng viên đăng tải lời kêu gọi các nước giàu có hãy để ra một phần ngân sách giúp đỡ các nước kém phát triển, vv… Đức Giáo Chủ chỉ qua Ấn hơn một tuần, nhưng để lại trong lòng nhân dấn Ấn nhiều kỷ niệm ngàn năm khó phai mờ.

BÀI LỜI CHÚA 32 THƯƠNG LINH HỒN BẢY MỐI

Trích lược Sách tiên tri Yô-na, ch.l Yavê truyền cho tiên tri Yô-na rằng: Hãy chỗi dậy, đi sang Ni-ni-vê, kinh thành vĩ đại, mà loan báo cho chúng hình phạt sắp đổ xuống trên đầu do các tội lỗi, ác nhân ác đức của chúng đã lên thấu tai Ta. Nhưng Yô-na run sợ, ông nghĩ: Dân Ni-ni-vê là dân đại gian, đại ác, lại là kẻ thù không đội trời chung của dân tộc mình. Nay mình sang rao giảng, nhỡ ra họ ăn năn trở lại và Thiên Chúa thì nhân từ sẽ tha, không giáng phạt cho họ, thì lời loan báo hình phạt của mình là dởm, thiên hạ sẽ cười mình chết. Hơn nữa, chúng là kẻ đại gian, đại ác, cứ để chúng bị phạt chết tiệt nòi, tiệt chủng đi là đáng kiếp. Nghĩ thế rồi, ông không tuân lệnh Chúa, trốn chạy nhiệm vụ. Thay vì xuống tàu sang phía đông đến Ni-ni-vê, ông xuống tàu đi ngược phía tây, tưởng lánh xa được mặt Chúa. Ai dè, đang lênh đênh trên mặt biển thì Thiên Chúa làm nổi dậy phong ba. Tàu muốn vỡ tan vì sóng nhồi, gió táp. Thủy thủ và mọi người trên tàu khiếp vía, ai nấy cầu khẩn thần linh của mình. Họ quăng đồ đoàn xuống biển cho tàu nhẹ bớt, nhưng nguy hiểm càng lúc càng lớn. Còn Yô-na chui xuống hầm tàu ngủ li bì. Thuyền trưởng lài gần đánh thức ông: – Này! Dậy đi mà kêu khấn thần linh của ngươi! Nhưng cầu khấn mãi mà nguy hiểm không giảm. Họ bảo nhau: – Giữa chúng ta, chắc có một kẻ tội phạm nào đó chọc giận thần linh, làm cớ cho các vị thần đổ tai họa xuống cho ta. Ta hãy bắt thăm để biết. Họ đã gieo thăm. Thăm lại nhằm đúng Yô-na. Yô-na đành phải xưng: – Tôi là dân Hipri (tức Do thái), thần linh tôi thờ là Yavê Chúa trên trời. Ngài dựng nên biển khơi cũng như đất liền. Nghe vậy, họ rất đỗi khiếp sợ. Họ hỏi: – Vậy ngươi đã làm gì xúc phạm đến Ngài? Yô-na thú tội là ông trốn nhiệm vụ Yavê trao. Họ hỏi bây giờ phải làm thế nào để biển yên sóng lặng. Yô-na nói: – Hãy quăng tôi xuống biển, thì các ông qua khỏi hiểm nghèo. Bởi tôi biết chính vì tôi đã xúc phạm đến Yavê, mà cơn bão này xảy đến cho các ông. Thoạt đầu, họ không dám làm, họ ra sức chèo chống để vào đất liền, nhưng vô phương, bão càng thêm hung dữ. Cuối cùng, họ đành khấn vái Yavê, xin đừng bắt tội họ vì mang Yô-na, rồi họ quăng tùm ông xuống biển. Tức thì, biển trở lại yên như tờ. Mọi người kính sợ Yavê và dâng tế lễ kính Ngài. (Chuyện Yô-na còn tiếp, sẽ kể vào dịp khác) * Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Vì sao Yô-na trốn chạy việc rao giảng cho dân Ni-ni-vê? Anh chị em nào đáp thử xem có đúng không? (để họ nói…). Bây giờ, ta thử đọc lại Lời Chúa, ở mấy dòng đầu có lời giải đáp (xin đọc lại mấy dòng đầu). Tóm lại, thứ nhất, ông sợ người ta chê cười. Đi loan báo hình phạt sắp xảy đến, mà nhỡ ra họ ăn năn trở lai, thì Thiên Chúa là Đấng giàu lòng ái tuất, kẻ đại gian, đại ác đến mấy mà thống hối, ăn năn, Ngài cũng tha thứ và thôi phạt; như vậy, hoá ra lời loan báo của ông là láo, loan báo điều không xảy ra. Thứ hai, ông không có lòng thương linh hồn kẻ tội lỗi, mặc kệ cho Chúa phạt chúng chết đi. Đáng tội! Biết đầu nhiều người trong chúng ta cũng là Yôna trốn chạy việc cứu giúp linh hồn người ta, vì sợ cái này, cái nọ! Là thành phần của Hội Thánh truyền giáo, ta mặc kệ người ta chết mất linh hồn mà không thò một ngón tay ra cứu vớt sao? Trong đời bạn, đã có lần nào giúp một người khác bỏ đàng tội lỗi trở về đàng chánh chưa? Đã một lần nào, bạn đưa một tâm hồn đến tin vào Chúa, hoặc đưa một người lương đến chịu phép Rửa tội chưa? Nếu đã được ít ra một lần, thì cũng tốt lắm ẳồi, thế là bạn đã cầm chắc phần rỗi của chính bạn, vì có lời Kinh Thánh dạy: “Hãy biết rằng: kẻ làm cho một người tội lỗi trở lại, bỏ đường lầm lạc, là sẽ cứu linh hồn mình khỏi chết và phủ lấp muôn vàn tội lỗi mình” (Gc 5.20). Dầu vậy, cứu một linh hồn là quá ít. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê bôn ba bốn bể năm châu, sang Ấn độ, đến Trung quốc, vào Nhật bản, lặn lội nơi rừng thiêng nước độc, đến cùng những bộ lạc hung tợn ăn thịt người… để rao giảng, dạy đạo, khuyên bảo mọi người hãy tin vào Chúa, hầu được cứu rỗi; nên thánh nhân đã cứu được cả triệu linh hồn đưa về với Chúa. Vậy cái gì là động cơ thúc đẩy lo phần rỗi cho người khác? Thưa: Thứ nhất: lòng yêu thương: “Mến Chúa thì cũng thương anh em mình. Phàm ai yêu mến Đấng Sinh thành, tất yêu mến cả những kẻ bởi Ngài mà sinh ra”, Thánh Kinh dạy vậy (1Ga 4.21 và 5.1). Không chỉ thương xác như đã xem ở các kỳ trước, mà còn thương phần linh hồn. Cứ xem gương Đức Giêsu đủ rõ: Ngài đã làm những gì để cứu linh hồn chúng nhân? Ở đây, chúng ta không bàn rộng, đợi dịp khác, chỉ cần nhớ một điều: cho dù chỉ có một linh hồn tội lỗi trên thế gian, Chúa Giêsu cũng từ bỏ đời xuống thế, rao giảng, hi sinh chịu chết làm của lễ đền tội cho người đó. Dụ ngôn người chăn chiên bỏ 99 con trên rừng, để đi tìm một con chiên lạc bầy, đã cho phép ta nghĩ như thế. Ngày xưa, Thày Mạnh Tử nói: “Người ta ai cũng có tính thiện trong người: đó là cái lòng trắc ẩn. Chứng cớ là đây: giá thình lình thấy đứa bé sắp ngã xuống giếng, thì ai trông thấy cũng có lòng bồn chồn, xót thương mà chạy lại cứu giúp. Xem như vậy, ai không có lòng trắc ẩn, thương xót, thì không phải là người” (chương Công Tôn Sửu) Cũng vậy, linh hỗn tội lỗi là một kẻ sa xuống giếng, đã là con người ai cũng xót thương mà đến cứu giúp. Há người Kitô hữu lại khống biết xót thương? Hay là họ không còn là người nữa? Hay họ không có trái tim? Kitô hữu nào không xót thương linh hồn người ta, không phải là Kitô hữu thật. Thứ hai: một lý do nữa thúc đẩy lo cứu các linh hồn là nhận định xác đáng về hạnh phúc đời đời. Ta có một báu vật gì, nếu mất Đi ta tiếc xót, đau khổ, buồn rầu, mất ăn, mất ngủ, có khi đến loạn óc, và nếu còn hi vọng, ta sẽ ra công tìm kiếm không quản khó nhọc. Do đó, nếu nhận định xác đáng hạnh phúc đời đời, cuộc sống với Chúa, với Đức Mẹ cùng các thần thánh nơi cõi trời mới, đất mới là cao quí, tốt đẹp và vui sướng vô ngần; ta sẽ cẩn thận không để mất nó, và thấy ai sắp mất, ta sẽ giúp họ gìn giữ. Hỏi giá trị một linh hồn là bao nhiêu? Thưa: cả vũ trụ này cũng không bằng. Đức Giêsu đã nói: “Nào ích gì cho người ta khi chiếm lấy cả thế gian làm sở hữu mà lại đánh mất sự sống linh hồn mình! Người ta sẽ lấy gì để chuộc lại sự sống linh hồn mình?” (Mt 8.36-37). Đức Mẹ đã hiểu hạnh phúc đời đời là thế nào: Tuy Đức Mẹ cũng là con cháu Adong, Evà như ta mọi đàng, song nay thì Người đang nếm hưởng phúc vô cùng trên trời với cả hỗn lẫn xác. Khi Mẹ thấy loài người cứ ham mê các vật thế gian tạm bợ, mau qua, chóng tàn, mà phạm tội mất lòng Chúa, bỏ mất phần phúc vô cùng lớn lao, cao quí kia, và xô nhau xuống hoả ngục đau đớn, quằn quại, nghiến răng, khóc lóc đời đời; thì Mẹ như cuống cuồng, rối rít lên… Cho nên, Mẹ hiện ra lia lịa, nơi nọ nơi kia: nào Lộ Đức, nào Fatima, bây giờ đang hiện ra bên Mễ Du… để cảnh tỉnh, để thúc giục người ta ăn năn trở lại, đừng dại dột chuốc lấy hoả ngục vô cùng đau đớn… Và để làm bằng chứng cho người ta thấy hoả ngục là có thật, thì ở Fatima, Mẹ cho ba em nhỏ – trong đó có Lu-xi-a, nay còn sống – được thấy hoả ngục và các quỉ dữ cùng các linh hồn trầm luân, đau đớn gào thét trong đó… Mới đây, ở Mễ Du, Đức Mẹ lại cho các thanh thiếu niên Mẹ tuyển chọn, được chứng kiến cảnh thiên đàng, rồi hoả ngục… Theo gương Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh, ta không thể sống dửng dưng, mặc anh em ta sa xuống đó, và tự nhủ mình: “Tôi có phải là người canh giữ anh em tôi đâu! Họ sao kệ họ, tôi không biết!” Lời Thánh Kinh dạy ta: Thiên Chúa trao cho mỗi người phận sự lo lắng phần rỗi và ích lợi thiêng liêng cho anh em đồng loại, chứ không chỉ lo cho mình thôi. “Mắt không thể bảo tay: Tôi không cần anh! Hay đầu không thể bảo chân: Tôi không cần các anh! Song Thiên Chúa đã xếp đặt các bộ phận của thân thể… để các bộ phận vì ích chung mà đùm bọc nhau. Cho nên, một bộ phận đau thì hết các bộ phận đều đau chung. Một bộ phận được vinh, thì hết các bộ phận đều vinh chung…” (1Cr 12,21-26). Sau khi nói như trên dành cho người lớn, chúng ta còn muốn nhắm đến các thanh thiếu niên nam nữ, con em chúng ta. Các em còn trẻ dễ uốn nắn,dễ tập biết lo ích lợi thiêng liêng cho tha nhân. Cha mẹ, phụ huynh tập cho con em mình thế nào? Trước tiên là bằng gương sáng, bằng lời nói và đời sống ưùnh. Nếu ngay từ nhỏ, các em được phụ huynh nói với các em về Chúa, khuyến khích yêu mến, làm đẹp lòng Chúa, và cùng cầu nguyện với cặc em, đưa các em đi nhà thờ, dạy các em biết cách lo lắng cho linh hồn tha nhân, thúc giục các em giúp đỡ các kẻ có tội, và cầu nguyện, hi sinh cho họ, tập cho các em biết làm việc tông đồ, truyền giáo bằng lời nói, việc làm, bằng chính gương hăng hái tông đồ của phụ huynh… các em sẽ tiêm nhiễm thói quen tốt lành đó, lúc lớn lên các em có thể tự động làm lấy một mình. Nhưng buồn thay! Nhìn vào gia đình công giáo, rất ít gia đình làm như vậy. Thành ra, các tính tốt tiềm tàng nơi các em bị mai một, chôn vùi đi. Phần nhiều, phụ huynh chỉ lo nghĩ đến các chuyện làm ăn, sinh sống vật chất: lo sức khoẻ, lo cho đi học, thi đỗ, thành công, có công ăn việc làm, dựng vợ gả chồng, có tiền xài…, toàn lo cho có những cái hay, các đẹp trước mắt người đời! Nếu có phụ huynh nào lo lắng về việc đạo của con em, thì quanh đi quẩn lại chỉ nghe thúc giục đi nhà thờ, dự lễ, đi xưng tội, hoặc dạy cầu xin những điều vật chất… Thảm hơn nữa, nhiều con em chỉ nhìn thấy phụ huynh đưa ra những lời nói, những cử chỉ vô đạo, hoặc lãnh đạm với Chúa, với phần rỗi… Chưa kể các em luôn thấy trước mắt những gương xấu tham tiền tham bạc, tham công ăn việc làm, chẳng có chút chi đạo hạnh. Nói tóm, con em chỉ thấy trong gia đình một lối sống ngoại đạo… được che phủ bằng vài phút đọc kinh nghêu ngao, chán chường lúc sáng tối… Còn cả ngày, Thiên Chúa hình như vắng bóng, không một ai nhắc nhở đến Ngài. Thế là đến lúc lớn lên, các em cứ theo đường lối ấy mà sống…, đến đời con, đời cháu chúng nó là mất đạo, chứ đừng nói gì đến việc cứu linh hồn người khác. Ngoài ra, phụ huynh cũng như con em còn phải chịu biết bao ảnh hưởng ngoại đạo chung quanh thấm nhập vào… Ảnh hưởng của quần chúng len lỏi khắp nơi, mọi ngõ ngách, cách nhẹ nhàng mời ngày một tí, rất tinh vi; nó âm thầm hay công khai phi bác đạo, các mầu nhiệm thiêng liêng… Rồi lại thêm sách báo, phim ảnh, câu lạc bộ… nhạc, băng, cát-xét, vi-đê-ô… lôi cuốn cách riêng giới trẻ rời xa không khí thiêng liêng, đạo đức, chạy theo các thị hiếu vật chất và chán điều thiêng liêng… Trong tình trạng nguy ngập này, mọi người phải nỗ lực cấp tốc sửa chữa lại… Phải đánh thức lương tâm dậy với bổn phận tông đồ, lo mưu ích thiêng liêng cho người khác… bắt đầu với các người đồng trang lứa, đang xa Chúa, đang sống bê bối… như đã nói trên kia. Phương thế tốt nhất để đánh thức, hun đúc sự lo lắng cho phần rỗi linh hồn tha nhân nơi các em, đó là thúc đẩy các em đi học Thánh Kinh, đi chia sẻ Lời Chúa. Cái gì phụ huynh đã cố gắng mà còn thiếu sót hay không đủ khả năng, Lời Thiên Chúa sẽ bù đắp mà dạy dỗ, huấn luyện, lôi cuốn các em, đúng như lời Thánh Phaolô dạy: “Kinh Thánh tất cả được Chúa Thánh Thần soi sáng, linh ứng, và có ích để dạy dỗ…, để tu chỉnh, để giáo huấn trong đàng công chính; ngõ hầu người của Thiên Chúa (tức là con cái Thiên Chúa) được trang bị sẵn sàng cho mọi công việc lành thánh” (1Tm 3.16). Phụ huynh sẽ thấy: các thanh thiếu niên, con em chúng ta không thiếu thiện chí; trái lại, có sấn một tấm lòng giàu đại độ mà ta không ngờ, chỉ tội từ lâu ta đã để chôn vùi, mai một, không khai thác cho Chúa và cho tha nhân được nhờ. Tích truyện Ba em Xê-xi-li-a (Cécilia) là một công nhân, phải đi làm từ sáng sớm đến tối mịt mới về. Má lo nội trợ song bà rất bác ái, hiền hậu, nên cả xóm đều quí mến. Em Cécilia mới ít tuổi mà học giáo lý rất giỏi. Em rất hãnh diện về gia đình mà em cho là rất hạnh phúc. Em em còn nghĩ đến Chúa bị bỏ rơi trong các người bị áp bức, đau khổ. Nhưng ai dè, một hôm, thật bất ngờ như gáo nước lạnh dột vào mặt, một đứa bạn nói: – Này, Xê-xi-li-a, mẹ mày thực tốt, nhưng khốn khổ vô cùng! Xê-xi-li-a kêu lên: – Sao thế? – Mày đừng tưởng gia đình mày hạnh phúc, vì ba mày đêm nào cũng về đến nhà đã say sưa be bét, rồi đánh đập, chửi mắng mẹ mày, hàng xóm nhà nào cũng nghe, mày không tin cứ rình xem! Tối hôm ấy, Xê-xi-li-a học bài xong, không đi ngủ như thường lệ, em chờ ba về, nấp kỹ sau bức màn và hồi hộp rình xem… Một cảnh tượng hãi hùng diễn ra trước mắt: ba em đầu bù tóc rối, hơi thở nồng nặc rượu; miệng tuôn ra hàng loạt câu chửi tục tĩu, nhiếc mắng mẹ em. Bà mẹ cúi mặt làm thinh, vừa ăn, vừa khóc. Lát sau, ba Xê-xi-li-a lùa nguyên cả mâm cơm sống nền nhà, chén bát vỡ tan tành… Chưa vừa ý, ông còn tặng vợ những cú đấm đá tàn nhẫn. Sau bức màn, Xê-xi-li-a chết lịm… Em suy nghĩ và cầu nguyện. Một hôm, em được Chúa soi sáng làm một diệu kế. Từ nay, tối nào em cũng thức đợi ba, lúc ba về, em chạy ra đón, ôm hôn ba, cất mũ áo cho ba, rồi quay sang giúp mẹ dọn bàn cơm. Suốt bữa, em ngồi bên ba má, ríu rít kể những chuyện vui ở trường, hỏi thăm ba công việc ở sở. Thoạt đầu, ba em lấy làm lạ, càu nhàu, khó chịu; nhưng dần dần đành chịu thua con, lại thấy trong lòng vui vui… Nhiều lúc, Xê-xi-lì-a còn đứng lên vỗ tay ca hát giữa nhà. Dần dà, bầu khí gia đình trở nên nhẹ nhàng. Tuy vẫn còn ngà ngà say, nhưng ông cũng lấy làm cảm động, có lần choàng tay ôm hôn con âu yếm. Rồi một hôm, Xê-xi-li-a xin phép ba kể lại điều em đã thấy, đã nghe về sự bất hoà giữa ba má mỗi tối, khi ba say. Xê-xi-li-a thú thực là em rất thương ba má, nhưng cũng rất đau khổ vì thấy Chúa bị bỏ rơi, bị khinh miệt trong cảnh gia đình xào xáo như vậy, nên em muốn đem Chúa về lại trong gia đình. Nghe kể vậy, ba má em cảm động. Họ mừng mừng tủi tủi, không ngờ con mình thương cha mẹ như thế. Ba em hứa từ nay sẽ chừa bỏ uống rượu để gia đình hoà thuận, hạnh phúc như xưa, và Xê-xi-li-a khỏi phải thức khuya đợi ba về nữa.

BÀI LỜI CHÚA 33 THƯƠNG LINH HỒN BẢY MỐI (TIẾP)

Tiếp chuyện tiên tri Yô-na, ch.2-4 Sau khi Yô-na bị ném xuống biển, Yavê đã liệu cho có một con cá lớn nuốt Yô-na vào bụng. Trong bụng cá 3 ngày 3 đêm, ông đã hối tội và cầu Chúa cứu giúp. Con cá lớn đã mửa ông lên đất liền. Ngay đó, lần thứ hai, lời Thiên Chúa lại vang lên, sai ông đi rao giảng. Ông tuân lệnh, đến Ni-ni-vê, cất tiếng hô lớn rằng: – Còn 40 ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá huỷ, nếu không lo ăn năn trở lại. Nghe tin sét đánh, dân Ni-ni-vê tin vào lời Thiên Chúa. Từ lớn chí bé sám hối, ăn chay, hãm mình, cởi áo lụa là, mặc bao bị nhặm. Ngay cả nhà Vua, hay tin ấy cũng rời ngai vàng, cởi cẩm bào, trùm lấy bao bố, ngồi trên đống tro, ăn năn đền tội. Vua còn ra lệnh cho dân, ngay đến trâu bò, súc vật cũng phải chay kiêng: – Mọi người phải ra sức cầu xin Thiên Chúa tha tội, cùng ăn năn trở lại, bỏ đàng tội và các việc hung ác vẫn làm, trông cậy nhờ đó Thiên Chúa sẽ dủ tình thương xót mà rút lại án phạt. Quả đúng, thấy họ thanh tẩy lòng sám hối, bỏ đàng dữ, Thiên Chúa đã rút lại, không trút phần phạt Người đã ngăm đe. Phần ông Yô-na, thấy thế thì buồn bực lắm! Ông nổì giận và trách Chúa: – A! Lạy Yavê! Lại không đúng như lời tôi nói sao, khi tôi còn ở quê tôi? Chính vì thế mà tôi đã trốn nhiệm vụ, vì quả tôi biết rằng: Người dịu hiền, từ tâm, khoan dung và nhân nghĩa bao la. Ai ăn năn thống hối là Người tha thứ và rút lại vạ dữ, không phạt nữa. Dân Ni- ni-vê đại gian, đại ác như thế mà Người cũng tha. Thôi, tôi còn mặt mũi nào mà sống nữa, xin Người cất mạng sống tôi quách đi cho rồi! Chết còn hơn sống nhục! Yavê mới nói: – Ngươi nổi giận như thế phải không? Hãy xem đây! Để cho Yô-na một bài học về lòng từ tâm, thương xót của Người, Yavê cho mọc lên một cây thầu dầu, một đêm mọc cao đến nỗi che mát cho Yô-na, đang khi ông chờ xem sự gì xảy ra cho Ni-ni-vê. Thoạt được bóng mát, Yô-na nguôi ngoai đôi chút. Đến sáng hôm sau, Thiên Chúa lại cho một con sâu chích cây thầu dầu chết khô. Gió nồm nóng bức thổi, mặt trời rọi những tia lửa trên đỉnh đầu, làm Yô-na ngất xỉu. Và ông lại muốn chết. Bấy giờ, Yavê mới phán: – Yôna, ngươi xem đó! Ngươi thương tiếc một cây thầu dầu mà ngươi không phải khó nhọc chút nào để vun trồng. Còn ta, sao lại không thương tiếc thành Ni-ni-vê vĩ đại, gồm trên 12 vạn con người, những người mê muội, lầm lạc, cùng với bao nhiêu súc vật hay sao?* Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Ông Yô-na buồn bực vì Chúa quá từ tâm, đã không tru diệt cái dân đại gian ác, Chúa còn sai ông đi rao giảng cho chúng ăn năn hối cải làm chi? Có tội là a lê hấp? Giết chết rồi phạt xuống hoả ngục đời đời cho đáng kiếp! Ngược lại, Chúa cho ông bài học: Chúa từ tâm, thương xót kẻ tội lối. Người không muốn diệt, Người sai ông đi răn bảo kẻ tội lỗi, lấy lời lành khuyên họ hối cải, để Người tha phạt. Kinh Thánh còn nói: Chúa thương xót ngay cả súc vật trong thành Ni-ni-vê nữa. Lòng từ ái Chúa thật bao la! Chúng ta đây thử xét xem: mình thuộc hàng con cái Chúa hay thuộc dòng giống con cháu ông Yô-na? Lấy dấu này mà biết: không biết xót thương số phận linh hồn tội lỗi, mặc kệ họ sống hay bị chết đời đời, ấy là kẻ thuộc dòng giống Yô-na. Còn ai biết xót thương phần rỗi kẻ có tội, ấy là người có tinh thần của Chúa, thuộc hàng con cái Chúa. Bài đền tạ hôm nay vẽ ra những việc giúp ta thực hành lòng thương xót ấy: thương linh hồn bảy mối. Bảy mối ấy là những việc nào, xin mời ông bà cô bác đọc lên giùm [mời họ đọc…, đọc xong nói: Tốt lắm!]. Chúng ta thuộc lòng cả. Đó là một chuyện: chuyện đầu và chuyện dễ nhất. Còn thực hành các điều đó mới khó và nhiều người không muốn làm. Vì thế, chỉ Chúa mới thúc giục lòng ta muốn và thích làm, đồng thời giúp sức ta can đảm mà làm, như lời Thánh Kinh dạy: “Chính Thiên Chúa tạo trong anh em cả ý muốn lẫn việc làm, thể theo Ý Người” (Ph 2.13). Vậy ta phải quay đến Chúa mà xin Người dạy cho điều gì phải làm, phải nói để sinh ích cho linh hồn người ta. Cầu cho ta đã đành, mối thứ 7 dạy phải cầu nguyện cho người khác nữa: + Cầu nguyện cho kẻ sống và kẻ chết: Việc cầu cho kẻ chết, giáo hữu ta lo khá chu đáo rồi, ở đây, chỉ bàn đến cầu cho kẻ sống, nhất là tội nhân. Trong khi giúp kẻ có tội, có những trường hợp ta không thể nói, hay không thể làm gì cho họ cả. Lúc ấy, ta phải biết giữ thinh lặng. Nhưng không phải thinh lặng thụ động, mà thinh lặng tích cực, nghĩa là liên lỉ chú tâm lo lắng cho họ, nhất là liên lỉ cầu nguyện cho họ. Kèm với lời cầu, lại còn dâng thêm các hi sinh, hãm mình, việc lành phúc đức chỉ cho họ. Tỉ dụ: trong gia đình, có người con đã lớn mà nghiện ngập, nhậu nhẹt, hư hỏng… Nói mãi, khuyên mãi cũng không ăn thua gì. Từ nay, cha mẹ, phụ huynh chỉ nên giữ thinh lặng, bớt khuyên, bớt thúc giục, bớt la mắng; nhưng cầu nguyện nhiều cho nó, hi sinh, hãm mình nhiều chỉ cho nó, cốt ý để Chúa nói với nó. Chúa biết cách nói hơn ta. Ta nhiều khi vì nóng nảy, sốt ruột, vì tư lợi mà la mắng, nói nặng nói nhẹ… hỏng việc hết. Như vậy, cầu nguyện là hành vi căn bản trong việc lo phần rỗi linh hồn mình cũng như linh hồn kẻ khác. Cầu nguyện cộng đoàn càng tốt hơn: dù hai hay ba người, hoặc gia đình, hoặc xứ đạo. Cũng chính trong dịp dạy về việc sửa lỗi, khuyên răn kẻ có tội mà Chúa hứa: “Quả thật, nếu trong các con, hai ba người dưới đất đồng thanh xin về bất cứ việc gì, thì Cha Thày, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho. Vì đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Thày, thì có Thày ở đó, giữa họ” (Mt 18-19-20). Trong Tân Ước, rất nhiều đoạn Chúa dạy cầu nguyện cho kẻ sống kẻ chết, thân thuộc, bạn hữu, kẻ làm ơn, ngay cả kẻ thù, kẻ ghét ta, không ưa ta…, cho các nhà lãnh đạo dân tộc, cho người ngoại, kẻ tội lỗi, vv… Đây chỉ xin trích một câu Thánh Phaolô dạy: “Tiên vàn mọi sự, tôi truyền phải dâng lời khẩn xin, cầu nguyện, kỳ đảo, tạ ơn cho hết mọi người, cho vua chúa, và hết mọi người quyền cao chức trọng… Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu thoát và được nhìn biết sự thật…” (1Tm 2.1-4). Tiếp đây, mối thương thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người: Bình thường, đừng nên hạn chế vào việc cầu nguyện. Thương linh hồn có 7 mối, cầu nguyện là mối thứ 7, còn những 6 mối khác kia mà. Vậy tuỳ theo mức độ lòng tin, sự hiểu biết và kinh nghiệm thiêng liêng Thiên Chúa ban cho ta, hãy nói cho người khác, đúng lúc, hợp tình hợp cảnh, một câu nói khôn ngoan, đầy ơn Chúa, để đưa đến cho, khi thì một lời giải đáp thắc mắc, khi thì một lời nhắc nhớ đến bổn phận, khi thì một lời khuyến khích tiến thêm trên đàng nhân đức, vv… Đừng để tính vị nể, ngại ngùng, mắc cỡ cản bước ta. Giáo dân ta rất chịu khó nghe giảng, đó là điều tốt. Chỉ uổng là sau đó, không để chút ít giờ mà suy đi gẫm lại như Đức Mẹ, hoặc đem chia sẻ với nhau trong nhóm cầu nguyện, hoặc nhóm chia sẻ Lời Chúa, cho nên nghe tai này lọt tai khác, mau quên đi, lúc cần phải nói cho ai thì lúng túng. Vậy xin mời anh chị em, nhất là các bạn trẻ, phải dự bị sao để có thể sẵn sàng tham gia một cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh về vấn đề giáo lý, thiêng liêng, hay bảo vệ một lập trường chân lý, đó là điều Thánh Phêrô dạy: “Hãy luôn sẵn sàng đáp lời với mọi người hỏi lẽ anh em về mối hi vọng (được sống đời đời) có trong anh em” (1Pr 3.15). Trong sách Công vụ Tông đồ, các tín hữu cầu xin giữa cơn bách hại rằng: “Xin cho các tôi tớ Người được tất cả dạn dĩ mà nói Lời của Người…”. Và Chúa đáp lời họ cầu như sau: “Họ cầu nguyện rồi, thì chỗ họ nhóm hội rung chuyển, hết thảy họ được đầy Thánh Thần, và họ cứ ngang nhiên nói Lời Thiên Chúa” (Cv 4.29,31). Vậy gia đình ta, mỗi người, hạ quyết tâm: ngày mai, từ sáng đến tối, tôi sẽ tìm dịp thuận tiện để nói Lời Chúa cho ít nhất một người. Và cứ như vậy, các ngày sau… Nhưng có điều là đừng chi nói bằng miệng, còn phải nói bằng đời sống. Chúa Giêsu, theo lời Kinh Thánh kể, vừa nói vừa làm. Ngài đã sống các điều Ngài dạy (x. Cv 1.1). Ngài còn tự hiến mạng sống để giữ trọn các điều Ngài dạy. Khi Chúa bảo ta: “Các con là muối cho đời, nếu muối ra lạt thì làm sao ướp được kẻ khác?”, tức là đời sống ta lạt lẽo, ơ hờ, nguội lạnh, làm sao ta giúp người khác mặn mà, khỏi ươn thối. Chúa nói tiếp: “Vậy chằng còn ích gì, chỉ còn đem đổ ra ngoài đàng xá cho người ta đạp lên mà đi”. – “Chúng con là ánh sáng thế gian… Vậy ánh sáng chúng con phải chói lọi trước mặt người đời”, nghĩa là đời chúng ta phải sáng chói bằng các việc tốt, việc thiện, việc hiền từ, việc bác ái…, thì lúc ấy, người đời thấy những việc tốt lành của các con mà tôn kính, nhìn nhận Thiên Chúa, Cha trên trời” (Mt 5.13-16). Quả là đúng câu châm ngôn các cụ ngày xưa nói: “Lời nói bay đi, gương bày lôi kéo”, hoặc: “Lời nói chỉ lay, gương bày mới chuyển”. Bây giờ, ta đến mối thứ hai: Răn bảo kẻ có tội: Người có tội đang ở trong một cơn hiểm nghèo rất lớn về phần rỗi. Nên Chúa dạy ta phải bỏ hết mọi sự để lôi kéo họ về: “Các ngươi nghĩ sao? Nếu một người có 100 con chiên mà một con bị lạc, há người ấy lại không bỏ 99 con trên núi mà đi tìm con chiên lạc kia sao?”. Chắn chắn thế rồi, ông ta sẽ bỏ 99 con ngoan, mà đi tìm con lạc. Liền đó, Chúa dạy tiếp: “Vậy thì nếu có ai trong anh em ngươi trót phạm tội, đi lạc đường nẻo phần rỗi, thì hãy đi sửa lỗi nó… Nếu nó nghe ngươi, ngươi đã lợi được người anh em đó”, tức là ngươi đã cứu được, đã lời được người anh em đó (Mt 18.15). Thánh Giacôbê giải thích rõ hơn: “Nếu có ai trong anh em lạc xa sự thật, và có người làm cho trở lại, thì người ấy hãy biết rằng: Kẻ nào làm cho người tội lỗi trở lại bỏ đường lầm lạc, sẽ cứu linh hồn nó khỏi chết, và phủ lấp muôn vàn tội lỗi mình” (Gc 5.19-20). Nhưng nên nhớ: đi nói lời răn kẻ có tội, mình đừng lên mặt đoán xét kết án họ hay khinh chê họ ngấm ngầm: “đồ tội lỗi”, “đồ ma cô “đồ đĩ điếm”…, nhưng lòng ta phải khiêm tốn, biết rằng mình cũng phạm tội tứ bề, nên phải làm sao cho họ cảm thấy là ta chỉ muốn ích cho phần rỗi họ. Lớn nói với lớn, thanh niên nói với thanh niên, trẻ nói với trẻ… Chẳng hạn, các em thiếu nhi sẽ nói gì với đứa bạn, khi em biết nó sắp đi xem một phim xấu? hoặc nó nói chuyện tục tĩu, hay một đứa bạn tỏ ra thô bỉ, tàn nhẫn đánh đập một em gái, một đứa trẻ nhỏ? Nếu lời khuyên răn, sửa đổi không làm được, ít nhất, ta cũng đưa ra một lời cảnh cáo, một lời nhắc nhở, và như thế, cũng kể là một việc thương linh hồn người ta rồi vậy. Tích truyện Chắc nhiều người ở Saigon có quen biết một cụ già hớt tóc dạo, theo đạo Tin Lành, người rất vui vẻ, vợ đã chết, con cái ở xa, có đứa đi nghĩa vụ. Cụ sống trong một căn nhà lụp xụp, nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc. Mỗi khi khởi sự hớt tóc là cụ nói ngay về Phúc Âm, về Chúa Giêsu Christ. Nhưng người khó quên được câu nói của cụ: – Tôi không ham giàu có, kiếm được đủ ăn và lo hầu việc Chúa hàng ngày như thế này là tôi sung sướng, thoả mãn. Cụ hân hoan vì đã biết dùng nghề hớt tóc mà nói về Chúa cho người ta.

BÀI LỜI CHÚA 34 THƯƠNG LINH HỒN BẢY MỐI (TIẾP)

Sách Kinh Thánh kỳ trước thuật chuyện tiên tri Yô-na bỏ trốn sứ vụ rao giảng, hôm nay, Kinh Thánh cho ta nghe chuyện ơn kêu gọi làm tiên tri của Ysaia. Ngược với Yô-na, Ysaia lại tự dâng mình đi rao giảng cho dân.Trích sách Tiên tri Ysaia, ch.6 Tiên tri Ysaia kể rằng: “Lối năm -742, Vua Ô-zy-a chết, tôi đã được thấy Thiên Chúa: Người ngự trên ngai cao thẳm, hoàng bào của Người xoà lấp Đền Thờ. Chung quanh Người có những thần Sê-ra-phim chầu hầu, mỗi vị có sáu cánh: hai cánh phủ mặt (kẻo trông thấy Thiên Chúa uy nghi mà phải chết), hai cánh che mình, hai cánh còn lại để bay (mà đi thi hành lệnh Chúa). Các vị ấy luôn luôn đối đáp nhau mà tung hô Thiên Chúa rằng: – Chúa là Đấng Thánh, Cực Thánh, ngàn trùng Chí Thánh! Yavê các cơ binh, trời đất đầy vinh quang Chúa! Tiếng hoan hô, chúc tụng vang rền, làm các cửa Đền Thờ rung rinh và Đền Thờ nghi ngút khói. Ysaia run sợ than: – Tôi chết mất, các thiên thần còn không được nhìn mặt Chúa, mà tôi đã được thấy Người. Tôi là kẻ tội lỗi, môi miệng đầy nhơ uế! Bấy giờ, một vị Sê-ra-phim bay đến, gắp một cục than hồng trên hương án Đền Thờ, đụng vào miệng lưỡi tôi mà nói: – Lửa hồng này đã tẩy sạch miệng lưỡi ngươi, tất cả tội lỗi của ngươi được tha. Ngay đó, tiếng Yavê phán: – Ta sẽ sai ai đi rao giảng lời Ta cho dân chúng? Ysaia sốt sắng thưa ngay: – Này tôi đây! Người cứ sai tôi! Yavê phán: – Vậy ngươi hãy đi rao giảng cho dân! Nhưng hãy nhớ rằng: đừng ngã lòng, dân này cứng đầu, nó nghe mà không hiểu, nhìn mà không thấy, chúng không trở lại mà được tha thứ. Tôi hỏi: – Sự ấy sẽ kéo dài đến bao giờ? Chúa đáp: – Cho đến khi các thành chúng bị tàn phá tan hoang, nhà không người ở, đất không ai trồng!…* Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Được sai, thế là Ysaia đi rao giảng, ông đã trở thành một tiên tri lớn nhất, Mặc dù dân chúng không nghe, không tin lời giảng, ông cứ thi hành nhiệm vụ, ngày đêm bất kể, vì nhiệt thành lo phần rỗi linh hồn người ta. Nhiều lúc, thấy dân chúng và vua quan cứng lòng, chai đá, ông giận run lên, hét những lời đe doạ nẩy lửa. Lúc khác, thấy trước cảnh tàn phá, thành hoang, đất trống, dân chúng sẽ bị lưu đầy khốn khổ vì tội lỗi mà không ăn năn hối cải, ông đau đớn thốt lên những lời than ai oán xé tâm can. Chúng ta cũng vậy, mỗi người hãy là một Ysaia khác hiến thân rao giảng Lời Chúa khi có dịp, tuỳ khả năng và thời giờ của mình, vì vinh quang Thiên Chúa và vì phần ích thiêng liêng cho người đời. Trong tinh thần ấy, ta đọc tiếp các mối thương linh hồn. Mối thứ ba: Răn bảo kẻ mê muội: Không kể tội lỗi, ngày nay còn một khốn khó khác là sự trí khôn mê muội, dốt nát về tôn giáo, không thông giáo lý. Còn về mặt lương tâm và luân lý thì mù mờ, không biết cái gì làm được, cái gì không được phép làm: cái này có tội không, cái kia có tội không? Tỉ dụ: cột buồng trứng có tội không? Ngừa thai là điều làm được hay bị cấm? Viết lý lịch mà gạch bỏ chữ Thiên Chúa giáo đi có là chối đạo hay chưa? Mà trong số những người mê muội, họ không phải như thời Ysaia đều cứng cổ cả đâu! Trái lại, có rất nhiều tâm hồn thiện chí, khao khát biết sự thật. Và có khi các kẻ mê muội lại chính là người nhà của mình: chồng, vợ, con cháu, Nếu không noi gương Ysaia, đến khai sáng cho họ hiểu đường lối của Chúa, thì tội nghiệp biết bao! Ta hãy nghe chuyện Phúc Âm: Một hôm, Chúa Giêsu bảo: “Hãy đi ra một nơi hiu quạnh, thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút!” Vậy thày trò lên đò đi đến một nơi vắng vẻ. Ai ngờ, dò biết được các ngài đến đó, dân từ khắp các làng xóm chung quanh rủ nhau kéo đến, và còn đến trước các ngài nữa. Vừa lên khỏi đò, Chúa Giêsu thấy dân chúng đông đảo, thì Ngài chạnh lòng thương xót họ, vì họ như cừu chiên không có người chăn dắt, dạy dỗ. Và dù mỏi mệt, chưa ăn uống gì, Ngài cũng lên tiếng giảng dạy cho họ… dạy mãi đến tận chiều, các tông đồ phải đến xin Chúa cho họ giải tán đi vào thôn xóm xung quanh mua thức ăn. Nhưng hôm ấy, Chúa thương đã làm phép lạ nuôi họ no nê cả phần xác nữa, bằng việc hoá bánh ra nhiều (Mc 6.30-44). Sau Chúa Giêsu, đến lượt các tông đổ cũng vậy, lo chia tay nhau mỗi người một phương giảng dạy kẻ mê muội, lầm đường lạc lối. Có cái hay là Kinh Thánh thuật lại việc các giáo dân cũng lo việc dạy dỗ ấy. Như ông A-pô-lô, ông vốn là người Do thái nên thông thạo Kinh Thánh; sau khi học biết đạo Chúa Giêsu, tâm hồn ông nồng nhiệt mến Chúa, thương linh hồn, nên dù là giáo dân, ông cũng tìm mọi dịp giảng dạy về Chúa Giêsu một cách xác đáng. Lại có cặp vợ chồng Pri-ki-la và A-ki-la, cũng là bạn với Thánh Phaolô, nghe tin ông A-pô-lô như vậy, đã đến gặp ông và trình bày cặn kẽ hơn về đạo Chúa Kitô… (x. Cv 18.24-28). Ôi, chớ gì xứ đạo chúng ta ngày nay mà có được một số người, nam nữ, trẻ già như mấy người ấy, thì thật là phúc lớn! Mối thứ tư: An ủi kẻ âu lo: Trong cuộc sống náo nhiệt ngày nay, nhìn cảnh quần áo chưng diện đúng mốt thời trang, cảnh ăn uống lu bù quán nọ, tiệm kia, cảnh xô nhau ào ào đi mua sắm đồ đạc, nhất là những nét mặt hớn hở của những người được thùng đồ tiếp tế ngoại quốc gửi về…, tưởng chừng ai cũng sung sướng, hạnh phúc. Có nhìn kỹ hơn mới thấy: con người thường bị bao nỗi buồn bã làm tê liệt tâm hồn. Khỏi cần kể, ai cũng biết các điều ấy rồi! Đời là bể dâu mà! Mỗi người mỗi cảnh, mỗi đời một cơn đau: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!”. Thánh Phaolô cũng trải qua nhiều kinh nghiệm đau đớn, nên ông mới nghiệm ra rằng: “Thiên Chúa là Cha đầy thương xót và là Chúa mọi nguồn an ủi. Người an ủi ta trong mọi cơn gian truân, khốn khó, ngõ hầu ta có thể an ủi kẻ khác” (2Cr 1.3-4). Cái hay trong câu ấy của Thánh Phaolô là ông đã được kinh nghiệm thấy trong bao nỗi gian truân, Thiên Chúa đã an ủi và thương xót ông, nên ông mời ta hãy nhớ lại bao lần trong các khốn khó, đau khổ của đời ta, ta đã nếm được sự an ủi và thương xót của Chúa, thì ông nói: đến lượt ta, ta cũng hãy an ủi kẻ đau buồn như vậy. Thiên Chúa an ủi ta, ta đem niềm an ủi ấy biếu cho người khác, và cứ thế, dòng sông tình yêu chảy xuôi mãi xuống, tràn lan ra… Nhiều lúc, đứng trước đau khổ lớn lao tràn ngập tâm hồn của một người, chẳng hạn một cái chết của người họ yêu thương, ta cảm thấy bất lực, không biết nói lời gì an ủi – lời nói của ta, thấy nó quá nhạt nhẽo… Lúc ấy, chỉ còn cách: im lặng và cầu nguyện cho họ: xin Cha là nguồn an ủi đến an ủi họ thay ta. Có một cách nữa: lấy một vài Lời Chúa hợp tình cảnh mà nâng đỡ tâm hồn họ. Ví dụ, trong cảnh có người thân chết, lấy lời Chúa dạy về cuộc phục sinh, và Chúa đến lại. (x. 1Tx 4.18; 5.9-11,14). Cần nhất đừng để các người âu sầu ở một mình, lẻ loi, cô độc… Khi có thể, ta làm họ nguôi ngoai bằng cách cứ để họ khóc cho đã; lúc khác, bằng cách xin họ kể cho mình nghe duyên cớ làm họ buồn, hoặc hỏi xem họ có cần ta giúp đỡ gì không, hoặc tích cực nữa là làm họ giải trí, quên đi nỗi sầu, chẳng hạn mời họ đi dạo, đi xem phim hay cho mượn một cuốn truyện hấp dẫn… Mối thứ năm: Tha kẻ dể ta: Đây là một việc thương xót người ta hơn cả: sự tha thứ! Thoạt nghe cũng lấy làm lạ, vì ta thường nghe giảng dạy: bổn phận phải tha thứ…; còn ở đây lại nói là một sự thi thố lòng thương xót. Thực ra, cả hai đều đúng, tuỳ người ta xét theo góc cạnh nào. Trước hết, nếu xét theo góc cạnh Thiên Chúa, thì phải nói chúng ta có bổn phận phải tha thứ những điều người ta đã xúc phạm đến ta, như chính Chúa đã tha thứ cho ta muôn vàn tội lỗi. Chính Chúa Giêsu đã lấy một dụ ngôn rất hay mà giảng về điều đó: Có một ông quan lớn kia, mắc nợ vua một vạn nén vàng (cỡ 100 triệu đồng). Thật là một món nợ khổng lồ! Vì không có để trả, nên nhà vua ra lệnh bán ông ta cùng vợ con làm nô lệ và tịch thu gia sản để trả nợ. Ông ta quì xuống, khẩn khoản van xin vua khoan hồng, để ông tìm cách góp nhặt mà trả. Động lòng thương, Vua thả ông ta, lại còn tha bổng cho cả món nợ. Vài ngày sau, đi chơi ngoài phố, ông bắt gặp một bạn đồng nghiệp nợ ông vỏn vẹn có 100 đồng. Ông ta liền túm lấy áo, đè xuống đất quát: – Nợ đâu, trả đây! Người bạn năn nỉ xin thư thả sẽ trả hết, nhưng ông ta không chịu, bắt bạn bỏ tù cho đến khi trả xong. Bạn bè thấy ông cư xử tồi tệ quá như vậy, mới kể lại sự việc cho Vua nghe. Đùng đùng nổi giận, Vua sai bắt ông ta vào triều mà mắng: – Đồ bất nhân bất nghĩa! Trẫm đã tha bổng cho ngươi, vì ngươi nài xin trẫm. Há ngươi không phải thương xót và tha cho bạn ngươi, như trẫm đã thương và tha cho ngươi sao? Phán xong, Vua sai lý hình bỏ tù và hành hạ y cho đến chết. Kể xong dụ ngôn, Chúa Giêsu kết luận: – Cũng vậy, Cha Ta, Đấng ngự trên trời, sẽ xử với các ngươi như thế, nếu mỗi người không thật lòng tha cho anh em mình (Mt 18.23-33). Lời Chúa dạy quá rõ, chẳng cần thêm gì; trong thực tế, chỉ xin nhớ điều này: Nếu trong lòng ta còn cưu hờn, tích oán bất kỳ ai, người dưng hay người thân trong gia đình, họ hàng, mà không tha thứ tự đáy lòng, thì ta có đi xưng tội cả chục lần, các tội ta vẫn không được tha, dù cha giải tội có lầm không biết mà cứ ban phép giải tội. Nếu đi rước lễ sau đó, lại thêm phạm sự thánh. Mọi việc đọc kinh, lần hạt, việc lành phúc đức lúc ấy đều vô giá trị trước mặt Chúa. Cách đây ít năm, có bà kia đi dự khoá Thánh Linh, thấy các người khác được đầy các ơn lạ lùng: nào vui mừng, bình an, nào nói tiếng lạ có người được Chúa ban ơn an ủi đến ngây ngất…; còn mình thì cứ trơ trơ ra, lạnh như đá, như đồng. Bà buồn quá, đến hỏi Cha hướng dẫn khoá cầu nguyện, thì Cha bảo: – Cố xét mình xem con còn mắc kẹt gì không? Về nhà, bà xét mình: chẳng thấy nợ nần ai, chẳng lấy của ai, không gian tham, không dâm ô, không bỏ lễ… Mãi vài hôm sau, chợt nhớ mình còn giận chồng, hận con… Như một ánh sáng bởi trời soi thấu nỗi u ẩn, bà đầy lòng hối hận, ăn năn, đi xưng tội và quyết lòng tha thứ tất cả. Quả nhiên, hôm sau, lúc giờ cầu nguyện, bà được Chúa ban xuống cho bà muôn hồng ân, bình an, vui mừng và cho bà được ân tứ cầu nguyện bằng tiếng lạ nữa. Ôi! Kể sao xiết nỗi vui mừng! Bây giờ, ta đứng góc cạnh người đã xúc phạm tới ta mà xét, thì có thể nói: tha thứ là một việc thi hành lòng thương xót. Vì sao? Hãy xem lại dụ ngôn trên: ông quan đã cư xử ra sao với người bạn? Thưa: ông bỏ tù bạn! Thế nếu ông tha thứ thì ông sẽ làm gì? Thưa: sẽ thả bạn ra và tha bổng cho bạn. Vậy đó, chung phải là thi hành lòng thương xót sao? Phần ta, tha thứ cho người khác, tức cũng như thả họ ra khỏi tù vậy. Mối thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta: Mối này hơi khác với mối trước. Không còn là chuyện tha thứ, song là nhịn nhục, nhẫn nại, chịu đựng những cử chỉ, những thái độ, tính nết, lời ăn, tiếng nói của kẻ khác làm ta khó chịu, đau đớn, khổ sở… Tha thứ thì chỉ đôi khi xảy ra, chứ nhịn nhục thì xảy ra hàng ngày. Vì đã sống chung thì có đụng chạm. Mỗi người mỗi tính, mỗi người mỗi ý riêng, quyền lợi riêng, sở thích riêng, nên dễ va chạm, dễ làm mất lòng nhau. Thánh Phaolô dạy: “Hãy vác gánh nặng của nhau, và như thế, anh em sẽ giữ trọn luật của Chúa Kitô” (Gl 6.2) – “Hãy chịu đựng lẫn nhau trong lòng mến, với hết lòng khiêm nhường và hiền từ… Hãy hăm hở duy trì sự hiệp nhất của Thần Khí, trong sự hoà thuận (Ep 4.2-3) – “Ai có lòng bác ái thật thì sẽ chịu đựng được mọi sự, bao dung mọi sự, kiên nhẫn trong mọi sự” (1Cr 13.7). Hãy noi gương Thiên Chúa, vì Kinh Thánh nói: “Bất chấp các tội phạm trước kia của loài người (kể từ tội của Ađam, suốt bao nghìn năm), Thiên Chúa vẫn cầm mình nhẫn nại… cho đến thời Người sai Đức Giêsu đến để cứu kẻ nào có lòng tin” (Rm 3.26). Đó, chính Thiên Chúa cũng phải cầm mình nhẫn nại, vì Người cũng đau buồn vì tội lỗi loài người lắm chứ! Kinh Thánh cho biết: “Yavê thấy sự dữ của loài người đã ra nhiều…, suốt ngày họ chỉ mưu tính sự độc dữ. Và Yavê đã phải đau phiền trong lòng…” (Kn 6.5-6). Thế mà “Ngài đã cầm mình lại, khoan dung, chịu đựng ta” (Rm 9.22), còn ta, Kinh Thánh ví như “cái bình thịnh nộ, sẵn chờ hư đi”, nghĩa là ta ví như cái bình chất đầy tội lỗi bên trong, tức là chứa đầy thịnh nộ của Thiên Chúa, chờ ngày nổ tung tiêu diệt ta hư đi đời đời. Thế mà, Thiên Chúa đã nhẫn nhịn, chờ ta ăn năn hối cải để được cứu. Đến lượt ta cũng phải nhẫn nhịn chịu đựng anh chị em ta như thế. Kể ra tha thứ hoặc nhịn nhục rất khó. Tại sao? Tại ta nhìn vào ta nhiều quá, ta thấy ta bị xúc phạm, quyền lợi ta bị thiệt thòi, hoặc vì ta nhìn chằm chằm vào các lỗi lầm nơi anh chị em khác, càng thấy sai trái, càng thấy thái độ, càng nghĩ đến lời ăn, tiếng nói xúc phạm của họ, ta càng bừng bừng tức giận,.. Nhưng nếu ngược lại, ta nhìn lên Thánh giá, Chúa đang chịu đóng đinh giữa vô vàn khổ đau, Ngài đã thốt lên lời van: “Xin Cha tha thứ vị họ lầm chẳng biết”…, ắt ta sẽ múc được sức mạnh mà nhịn nhục, chịu đựng và tha thứ cho người đời. Tích truyện Người ta kể chuyện nhạc sĩ Bét-tô-fen, một hôm đi ngang qua nhà kia, từ trong nhà vẳng ra tiếng nức nở nghe vô cùng não nuột, thương tâm. Dừng lại nghe một lát, tâm can ông bùi ngùi xúc động. Nhạc sĩ không cầm lòng nổi, ông nhè nhẹ mở cửa bước vào. Một cảnh tượng buồn thảm hiện ra trước mắt: một bà mẹ trẻ đang khóc thương trước thi hài đứa con trai độc nhất của bà, đang còn phủ khăn liệm. Nỗi đau thương bi luỵ ấy, ai có lời nào an ủi nổi. Chợt nhạc sĩ thấy loé ra trong đầu một sáng kiến. Ông êm ả đến cạnh chiếc đàn organ (phong cầm), nhẹ nhàng chơi một bản êm đềm, thánh thót: ông để tất cả tâm tình cảm thông vào các phím đàn, ông muốn nhờ đàn diễn tả tất cả những lời an ủi, mà lời nói không sao tả được… Tiếng nhạc khi trầm, khi bổng, êm ái, du dương… Và cứ thế, người ta thấy bà mẹ dần dần vơi buồn, bớt khóc than và khô giọt lệ, đôi mắt bà mẹ nhìn lên trời với tất cả lòng biết ơn thầm lặng… Rồi nhạc sĩ đậy nắp đàn, êm ả rút lui, không một tiếng động, để lại trong nhà một bà mẹ, tim bừng sáng niêm trông cậy…

BÀI LỜI CHÚA 35 ĐIỀU RĂN THỨ SÁU VÀ THỨ CHÍN: CHỚ DÂM DỤC

Trích Sách Khởi Nguyên, ch.2 Vào ngày Thiên Chúa làm ra đất và trời… Yavê Thiên Chúa đã nắn hình người với bụi đất lấy tự đất đai, Ngài đã hà hơi sống vào mũi nó và nó đã thành một người sống. Thiên Chúa đã trồng vườn cây ở Ê-đen, rồi đặt con người vào trong đó để canh tác và giữ vườn. Trong vườn ấy, Thiên Chúa cho mọc lên mọi thứ cây coi sướng mắt và quả thì ăn ngon lành, lại có cây sự sống ở giữa vườn cùng cây biết tốt xấu. Trong vườn lại có những con sông phù sa phì nhiêu chảy qua. Yavê Thiên Chúa phán: – Nếu người ta chỉ có một mình, điều ấy không tốt. Ta sẽ làm cho nó cái gì trợ giúp tương xứng với nó. Và Yavê Thiên Chúa đã nắn ra từ đất đai mọi thứ dã thú, mọi giống chim trời, rồi Ngài dẫn chúng đến cho con người, xem nó gọi làm sao, thì tên chúng là vậy. Con người đã đặt tên cho mọi giống súc vật ấy. Nhưng còn phần riêng họ, họ vẫn không gặp được người trợ giúp tương xứng nào. Và Thiên Chúa đã giáng xuống trên con người một giấc ngủ kỳ lạ, rồi Ngài đã rút lấy một xương sườn của nó, đoạn lắp thịt vào. Và trên sườn đã rút tự con người, Thiên Chúa đã làm thành người đàn bà. Đoạn Ngài dẫn đến với con người. Thoạt thấy nàng, nó kêu lên sung sướng: – Phen này, nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi. Nàng sẽ mang danh là “đàn bà”, vì đã được rút từ đàn ông. Bởi thế, đàn ông sẽ rời bỏ cha mẹ mà khắng khít với vợ mình, và chúng sẽ nên một thân xác. * Đó là Lời Chúa! – Tạ ơn Chúa! Suy niệm Lời Chúa Với bài Lời Chúa hôm nay, ta bắt đầu học về điều răn thứ sáu. Nhưng ngay đây, xin đặc biệt lưu ý một điều: trong vấn đề quan trọng chừng này của cuộc đời con người – vấn đề nam nữ – ta đừng chỉ chăm chú hỏi xem sự gì cấm, sự gì cho phép, tức là chỉ chú ý đến giới răn, điều luật. Tất cả chúng ta, từ trẻ đến lớn, để là Kitô hữu sau Công Đồng Vatican 2, phải có một lối nhìn đổi mới, phải “đổi mới tư duy” – như ngày nay người ta thường nói – phải có một cái nhìn sâu xa, rộng lớn hơn phạm vi giới răn, điều luật; phải có một thái độ Kitô giáo chân chính, đúng đắn như Kinh Thánh dạy và Công Đồng hướng dẫn. Muốn được như thế, phải học hỏi nhờ Kinh Thánh và sự hướng dẫn của Công Đồng, để biết được ý muốn của Thiên Chúa thế nào, khi Ngài tạo dựng nên loài người có nam có nữ. Phải học hỏi, phải dùi mài cho đến kỳ nhập tâm, trở thành thói quen, thành nếp sống, thành thái độ, cử chỉ bình thường trong đời sống mình. Những điều sẽ nói đây, có lẽ chẳng có chi mới lạ, nhưng điều cần là nhắc lại, “ôn cố nhi tri tân” để nhập tâm. 1/ Người khác phái không phải là mối nguy hiểm: Ta vừa nghe đọc Lời Chúa trong sách Khởi Nguyên, điều đầu tiên Chúa dạy không phải là bổn phận bảo vệ nhân đức trong sạch. Kỳ cục thật! Cứ nghe nói đến điều răn thứ sáu và thứ chín, là tức khắc người ta nghĩ ngay đến cấm đoán: Chớ làm cái này! Đừng làm cái kia!… Trong bài Kinh Thánh vừa đọc, ta thấy trái lại: Chúa nói chuyện yêu đương. Chúa cưới vợ cho ông Ađam. Ông Ađam thấy vợ, sướng quá, ca lên, hát nên lòng biết ơn và hạnh phúc có được một người bạn đời. Rồi Kinh Thánh nhẹ nhàng nói đến chuyện họ kết hợp với nhau khắng khít, quí nhau, cần nhau, đến nỗi bỏ cả cha lẫn mẹ mà quấn quít lấy nhau, thành một thân thể: “Mình với ta xưa hai nay một!” Một bản văn Kinh Thánh khác bổ cứu thêm: Thiên Chúa chúc lành cho tình yêu vợ chồng ấy và bảo: “Hãy yêu nhau nhiều vào, để sinh con đẻ cái đầy đàn đầy đống, ngõ hầu bá chủ trên hành tinh này, cùng muôn vật trên vũ trụ”. Đoạn Thiên Chúa khoanh tay nghỉ việc, Ngài ung dung vuốt râu, sung sướng vì đã thành công trong việc tạo dựng. Ngài thấy nó đẹp quá, tốt quá, không chê vào đâu được. Có thể nói, nếu Ngài không tạo dựng, chắc Ngài không được hạnh phúc như vậy. Tạo dựng thành công, tốt đẹp, Ngài như thêm vinh quang và hạnh phúc. Trong cảnh tả trên, không có gì là cấm kỵ. Vì thế, Thiên Chúa dựng nên nam nữ, trước hết không phải để cấm trai gái, nam nữ yêu nhau, không phải để cấm nhìn, cấm nghĩ đến nọ kia. Vì trong viễn tượng cấm kỵ, người khác phái sẽ bị coi là một mối nguy hiểm cho ta. Và nếu họ tự nhiên hấp dẫn ta – hấp dẫn cách thú vị là đàng khác – họ lại vẫn là một vật mà ta cứ phải tránh lánh, trước họ, ta phải đề phòng như một nguy cơ cho bản thân. Nhiều lần, ta còn nghe nói độc địa thế này: Đàn bà là quỉ Satan cám dỗ đàn ông! Một cầu nói, xét cho cùng, không có tinh thần Chúa Kitô. Do một cách dạy đạo từ xưa quá tiêu cực, chỉ nhằm bảo vệ đức trong sạch tư riêng cá nhân về điều răn thứ sáu và thứ chín (chớ dâm dục, chớ muốn vợ chồng người), nên ta luôn ở vào thế phòng thủ, bảo vệ. Đành rằng điều ấy không hoàn toàn sai hay phải bỏ đi đâu. Không! Song người ta quên nhắm đến mặt tích cực, là sự đánh giá người phái kia, và tôn trọng họ đúng phẩm giá, chức vị và khả năng của họ, như Kinh Thánh dạy. Nếu ta có cái nhìn tích cực nói đây, việc tuân giữ hai giới răn 6 và 9 sẽ trở thành một việc của lòng yêu thương: ta yêu mến, tôn trọng Chúa và trật tự Chúa đặt ra về vấn đề nam nữ, và ta yêu mến người khác phái, tôn trọng, kính nể họ: đó là ta thi hành đức bác ái rồi vậy. Xin lưu ý: Cái lối nhìn tích cực và cởi mở này không phải là cấp tiến, hoặc thích bày điều mới lạ. Đúng hơn là do Giáo Hội ngày nay trở về với Kinh Thánh, mà rút ra từ Lời Chúa dạy đó thôi. 2/ Con người một mình thì thiếu thốn, nghèo nàn: Lời Chúa dạy cho ta biết ý muốn của Chúa về vấn đề này như sau: “Con người chỉ có một mình là điều không tốt”, tức là không đầy đủ hoàn toàn. Dựng cho con người một vườn địa đàng, đủ mọi hoa thơm, quả lạ, đầy muông chim, cầm thú, Thiên Chúa thấy họ vẫn chưa hạnh phúc, vẫn thiếu một cái gì sâu xa trong bản thân họ. Nói trắng ra, họ cần có ai khác làm bầu bạn và trợ giúp. Thấu tim đen của họ, Thiên Chúa mới nói: “Thôi được! Ta sẽ làm cho nó một người trợ giúp tương xứng với nó”. Rồi Thiên Chúa giáng xuống cho con người một giấc ngủ kỳ lạ, có ý nói, con người không thấy được việc Chúa làm. Đối với Ađam, việc Chúa sắp làm đây là một mầu nhiệm: Chúa lấy một xương sườn mà làm thành người đàn bà. Tích lấy xương sườn này phải hiểu theo nghĩa bóng, tức là người đàn bà có đồng bản tính nhân loại, bình quyền, và đồng chức vị như đàn ông. Cho nên, khi thấy Eva, Ađam kêu lên: “Phen này, nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi!”. Viết điều ấy, Thánh Kinh có ý dạy cho các dân tộc bán khai: đừng nên coi đàn bà như vật thấp hèn, rẻ rúng. Cách đây không lâu, có dân còn cho là đàn bà không có linh hồn, như đồ chơi của đàn ông. Và trong những nước vùng Á Đông như Trung Hoa, Việt Nam… các ông tậu hàng tá vợ, nàng hầu, cứ có tiền là bao nhiêu cũng được: phụ nữ bị coi rẻ mạt. Chỉ cần nhớ đến các vua thời xưa có tam cung, lục viện chứa hàng trăm, hàng ngàn cung nữ, cung phi. Vậy không nên hiểu tích xương sườn như thể Thiên Chúa lấy của ông Ađam, làm cho đàn ông bầy giờ có xương sườn cụt. Hiểu theo nghĩa đen như thế, đã đưa đến cầu chuyện “tếu” sau đây: Có bà vợ kia, quá ghen tuông, đêm nào cũng sờ nắn xương sườn chồng, xem có cụt thêm cái nào nữa không, sợ rằng cứ cụt thêm một cái là ông lại có thêm một bà! Từ xương sườn, Thiên Chúa nắn thành người đàn bà. Chúa không nắn thêm một đàn ông thứ hai, một người đồng chí, một người anh em, nhưng là một người đàn bà, phái nữ, để bổ túc cho ông. Đó chính là cái ông thiếu. Vậy ra, đàn ông không đầy đủ, ông thiếu thốn sâu xa. Thiên Chúa đem đến cho ông một bổ túc cho bản thân, cho cuộc đời ông. Muốn bổ túc, đàn bà phải khác: khác tài, khác tâm lý, khác tính tình, khác vóc dáng, khác năng khiếu… Nhưng bổ túc ấy phải tương xứng, tức là đồng bản tính nhân loại, đồng chức vị, đồng quyền. Các cầm thú không tương xứng, vật chất ăn ngon, mặc đẹp, âm nhạc, hội họa… cũng không tương xứng, nên không bổ túc cho bản thân ông được. Được vợ rồi, từ đó, hai người quấn quít nhau, kết hợp với nhau: cả hai hợp lại mới thật thành người toàn vẹn, đầy đủ. 3/ Kết luận từ đó thế nào? Rút bài học gì cụ thể? a/ Nếu Thiên Chúa đã dựng nên con người tự bản chất – bên nam cũng như bên nữ – là thiếu thốn, là bất toàn và cần phải có người kia bổ túc, vậy thì điều trước hết là ta phải nhận mình cần người kia. “Con người một mình là không tốt”. b/ Càng thấy cần, càng phải quí. Nếu trên mặt bản thân, không gì quí hơn người khác phái. Đó là cả một kho tàng phải quí, phải tôn trọng, vì quà tặng đó của Thiên Chúa. Nếu mỗi bên đều nhìn bên kia với con mắt thán phục, quí trọng, kính vì, thì cuộc đời sẽ đẹp biết bao! Người nữ sẽ nhìn nhận nơi người nam sự khỏe mạnh, giàu nghị lực, làm rường cột, làm người cầm cân nảy mực, có trí óc minh mẫn, thực tế, để điều khiển và tổ chức gia đình, xã hội, nơi nương tựa cho chị em trong những lục hoạn nạn, sầu đau. Người nam sẽ nhìn sang người nữ với lòng thán phục, vì trong họ chất chứa cả một kho tàng phong phú tình yêu, đầy hiền từ, nhẫn nại, chịu khó, dịu đàng, mềm mại, dễ thương, dễ mến. Không phải phụ nữ là biểu tượng của tình yêu sao? Ông M. bị vợ giận bỏ đi, lẩn này là lần thứ ba, chỉ vì ông đã nghèo mà còn nóng tính. Biết lỗi, lẩn này, ông lại đi van xin vợ trở về nhà. Thấy ông có vẻ quá quị luỵ bà vợ, hàng xóm cho ông là hèn nhát. Ông đáp lai một câu thật cảm động và có ý nghĩa: – Tôi phải quị luỵ, nhún nhường tìm vợ tôi về, để có người mẹ, con cái tôi có được tình âu yếm. Thì ra, ông nhận rằng: chỉ có người đàn bà mới có thể đem lại tình thương, và âu yếm là món ăn tâm thần cần thiết cho con cái ông, mà ông không có được. Cứ tưởng tượng thế giới này sẽ ra sao, nếu không có phụ nữ? Chắc chắn sẽ buồn tẻ và không còn nhân đạo, chỉ toàn tranh giành, xô xát khốc liệt. Văn chương, thi phú, ca nhạc chẳng còn hứng nữa, sẽ biến mất. Nhà cửa bừa bãi, dơ bẩn, ngập rác rưởi đo tính lười biếng của đàn ông… Còn sự gì sẽ xảy đến, nếu thế giới này không có đàn ông? Các bà sẽ chẳng còn cái sung sướng tay bống tay bế, hôn hít, chắt chiu… Thế giới sẽ vô tổ chức, vô trật tự, vì không còn luật lệ gì cả, tất cả sẽ tùm lum, tà la, rối rít tít mù, không biết đâu mà rờ. Người ta thường nói giỡn: Ba bà với vài con vịt đủ thành cái chợ. Thì lúc ấy, cả thế giới đàn bà sẽ om xòm như một cái chợ vĩ đại. Còn trong gia đình, nếu thiếu đi người cha hoặc người mẹ, như những trường hợp ly thân, ly dị, gia đình ấy sẽ ra sao? Kinh nghiệm đã cho thấy rõ: thật là bất hạnh! Tội nghiệp cho mấy đứa trẻ! Ở với cha thì mất mẹ. ở với mẹ thì thiếu cha. c/ Thực tế, đàn ông sẽ không cậy vào sức mạnh mà khinh bỉ hạng liễu yếu đào tơ. Phụ nữ không đâm tự ti mặc cảm mà coi mình thấp hèn. Đàn ông mà khinh bỉ phụ nữ, người ấy tỏ ỉa còn trẻ con, chưa trưởng thành, chưa xứng mặt trượng phu. Đàn ông, con trai cậy sức mạnh, đánh đập, lấn át phụ nữ, đó là một kẻ mọi rợ, vũ phu! Các dân văn minh luôn tôn trọng phụ nữ! Các ông chồng hãy nghe lời Kinh Thánh dạy: “Anh em là chồng, thì phải biết điều mà sống cảnh gia thất với vợ hợp với thân phận mỏng giòn, chiếu theo nữ tính của họ. Đối với họ phải kính vì, như những kẻ đồng thừa hưởng cơ nghiệp sự sống đời đời” (1Pr 3.7). Người đời cũng thường nói: không nên đánh vợ, cho dù bằng một cành hoa hồng”. đ/ Ngay từ nhỏ, tập cho con cái biết tôn trọng nhau, nhất là con trai. Phụ huynh đừng nói điều gì, đừng làm hành vi nào tỏ vẻ khinh bỉ đàn bà, con gái. Tập cho mình, cũng như cho con cái biết cách biểu lộ sự tôn trọng ra bên ngoài bằng các cử chỉ, lời ăn, tiếng nói: những cử chỉ lịch sự (chẳng hạn nhường chỗ cho phụ nữ), ăn nói nhã nhặn, thái độ đứng đắn, giúp đỡ nhau tùy khả năng, sức lực (chẳng hạn con trai, đàn ông đảm nhiệm các việc nặng nề. Sức lực của nam giới là để bảo vệ phụ nữ và tránh cho họ những việc nặng nhọc). Những điều nói đây, ai cũng biết cả, nhưng lại không thực hành. Lý do một phần là người Việt ta, dù đạo công giáo, song vì lâu đời thâm nhiễm tinh thần Nho giáo: trọng nam khinh nữ (nam viết hữu, nữ viết vô), cho nên có thái độ khinh rẻ phụ nữ. Nào là: “Bà câm đi! Đàn bà biết gì mà nói!” – hoặc: “Cút xuống bếp đi cho rảnh!” – hoặc: “Đồ con gái, động tí là khóc nhè!”. Chúng ta là Kitô hữu, phải sống theo Chúa Kitô dạy, chứ không theo Khống Tử dạy. Đừng sợ rằng tôn trọng, nhường nhịn phụ nữ là nịnh đầm, thấy mắc cỡ, nhục nhã. 2/ Sau nữa, tập biết hợp tác với nhau trong mọi lãnh vực: gia đình, đoàn thể, xã hội… Hãy xem một bác sĩ cũng cần có người trợ tá, nữ y tá… Vì sao ngày nay các bà, các cô ra ứng cử hội đồng, chen chân vào các tổ chức xã hội, ngay cả làm thủ tướng? Bởi vì, tuy người nam có tài tổ chức, khéo điều khiển bộ máy, song phụ nữ thấy nhiều điều tinh tế mà nam nhân không thấy. Như thế là bổ túc cho nhau. Do đó, ngay trong gia đình, từ nhỏ, hãy tập cho có sự hợp tác ấy. Phân công cho con trai, con gái là một chuyện, khuyến khích hợp tác mới mỹ mãn. Người lớn cứ nghĩ lại mà xem, chẳng phải thường thường trong gia đình, ta luôn đề cao con trai, hạ thấp hay coi thường con gái? Con trai thì thế nào cũng được, con gái thì bi kèn cựa từng li từng tí, nhân danh một tục lệ lỗi thời: “Ngày xưa, khi tao còn con gái còn nết na, nề nếp, khép nép hơn mày bây giờ nhiều”. Đành rằng phận gái phải kín đáo, nết na, giữ gìn hơn, điều đó rất đúng và vẫn luôn đúng; song gò bó, đóng kín và thụ động như xưa là không còn hợp thời và hợp lý nữa. Cho nên phải đề cao khả năng và giá trị cả hai bên, tuy mỗi bên một khác, phải khai thác và phát triển năng khiếu, tính tình, đức tính của hai bên. Một gia đình sẽ đầy sinh lực, sẽ phong phú cũng là nhờ biết làm chủ như thế; một xã hội sẽ giàu mạnh, tiến bộ và văn minh cũng nhờ đó phần lớn… Gia đình ta đọc kinh đền tạ và cũng xin Chúa giúp sức thực hành bài Chúa dạy hôm nay.

Comments are closed.
Ky Phu,Nho Quan,Ninh Binh, Viet Nam Country
+84.229 6333 111

BOOKING TEE TIME

[formidable id=8 title=true description=true]
Trang An Golf and Resort